Tuesday, 9 June 2026

MỘT QUÂN ĐỘI BỊ LÃNG QUÊN

 

(19-06 Ngày Quân Lực)

Phạm Sơn Liêm

Hình của Bộ thông tin VNCH.

Có những người lính được lịch sử ghi tên bằng tượng đài.

Có những người lính được cả thế giới nhắc nhớ qua sách vở và phim ảnh.

Nhưng cũng có những người lính chiến đấu suốt tuổi thanh xuân, đổ máu trên từng tấc đất quê hương, rồi dần bị phủ mờ trong những trang sử của thời cuộc.

Đó là người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Hai mươi năm chiến tranh.

Hai mươi năm sống giữa tiếng pháo kích, tiếng trực thăng, tiếng gọi ới nhau giữa khói lửa chiến trường.

Từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên Kontum, từ Khe Sanh, Quảng Trị đến An Lộc, Bình Long, hàng trăm ngàn người lính đã đứng lên bảo vệ miền đất mà họ gọi là quê hương.

Nhiều người nằm lại nơi rừng sâu biên giới.

Nhiều người trở về với thân thể không còn nguyên vẹn.

Nhiều người bước vào trại tù sau năm 1975.

Và cũng có những người mãi mãi nằm lại dưới lòng biển Đông, trên những con thuyền vượt biên tìm tự do.

Lịch sử có thể còn những tranh luận. Quan điểm chính trị có thể khác nhau. Nhưng sự hy sinh của người lính thì không thể phủ nhận.

Máu đã đổ là thật. Nước mắt của những người vợ chờ chồng là thật. Nỗi đau của những đứa con mất cha là thật. Và lòng can đảm của những người đã chiến đấu đến cùng cũng là thật.

Cuốn sách “Một Quân Đội Bị Lãng Quên” của giáo sư Andrew Wiest không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời biện hộ.

Đó là lời nhắc nhở rằng, người thật việc thật, phía sau những con số thống kê và những bản đồ tác chiến là những con người bằng xương bằng thịt. Những người đã yêu nước theo cách của họ.

Đã chiến đấu theo lời thề của họ. Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm. Và đã trả giá bằng chính cuộc đời mình.

Bài viết này xin được cúi đầu trước những người lính của một quân đội đã đi vào lịch sử. Dù thắng hay thua, họ vẫn là những người đã sống, chiến đấu và hy sinh cho điều họ tin tưởng. Và lịch sử, nếu muốn công bằng, không nên quên họ.

Kính dâng những chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những người đã mang màu áo năm xưa đi suốt một đời người, và những người đã nằm xuống mà tên tuổi vẫn còn trong trái tim đồng đội.

MỘT QUÂN ĐỘI BỊ LÃNG QUÊN

Có những cuộc chiến kết thúc bằng tiếng súng.

Nhưng cũng có những cuộc chiến kết thúc bằng sự im lặng.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến như thế. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Những cánh rừng Trường Sơn đã xanh trở lại. Những hố bom năm nào đã thành ruộng lúa. Những người lính già còn sống sót giờ tóc bạc như mây. Nhưng ở đâu đó trong những trang sách lịch sử phương Tây, vẫn còn một khoảng trống rất lớn.

Đó là hình ảnh của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Năm 2000, một giáo sư sử học người Mỹ tên Andrew Wiest đặt chân đến Việt Nam. Ông sang đây để tìm hiểu về cuộc chiến của nước Mỹ. Nhưng rồi ông phát hiện ra một sự thật khác. Một cuộc chiến của người Việt.

Một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm nhưng gần như bị xóa khỏi lịch sử.

Tại Huế, ông gặp cựu sĩ quan Phạm Văn Đính. Người sĩ quan ấy từng chỉ huy đơn vị chiến đấu giữa những trận mưa pháo dữ dội của Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.

Một buổi chiều, ngồi bên ly cà phê cũ kỹ, Andrew hỏi:

— Ông đã chiến đấu bao lâu?

Ông Đính nhìn xa xăm.

— Gần cả tuổi trẻ.

— Và cuối cùng?

Người cựu sĩ quan khẽ cười buồn.

— Cuối cùng thì lịch sử quên mất chúng tôi.

Câu trả lời ấy khiến Andrew chết lặng.

Ít lâu sau, ông gặp một người khác.

Thiếu tá Trần Ngọc Huế. Một người lính nổi tiếng của chiến trường Quân đoàn I. Người đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng trong chiến dịch Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Sau trận đánh đó, ông bị thương nặng.

Bị bắt.

Bị giam cầm suốt 13 năm trong các trại tù cộng sản.

Thêm 6 năm quản thúc.

Gần hai mươi năm cuộc đời tan biến sau song sắt.

Andrew hỏi:

— Điều gì khiến ông vẫn tiếp tục chiến đấu?

Ông Huế trả lời rất chậm:

— Vì sau lưng tôi là gia đình tôi. Là quê hương tôi. Là những người dân không có súng. Nếu chúng tôi bỏ chạy, ai sẽ đứng lại?

Andrew kể rằng khoảnh khắc ấy ông hiểu. Ông không còn nghiên cứu chiến tranh nữa.

Ông đang nghiên cứu số phận con người.

Từ đó, ông bắt đầu lần theo những dấu chân bị bỏ quên.

Ông đọc hàng ngàn tài liệu.

Phỏng vấn hàng trăm cựu chiến binh. Lật lại từng trận đánh. Và ông tìm ra ra nhiều điều gây sửng sốt.

Trong rất nhiều cuốn sách nổi tiếng về Chiến tranh Việt Nam, người ta kể rất nhiều về lính Mỹ. Nhưng gần như không kể gì về những người lính Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh họ.

Như thể họ chưa từng tồn tại!

Mậu Thân 1968.

Thế giới nhớ đến những người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ chiến đấu tại Huế.

Đó là sự thật. Họ đã chiến đấu anh dũng. Nhưng đó chưa phải toàn bộ sự thật.

Trong từng con hẻm đẫm máu của Thành Nội Huế.

Trong từng bức tường loang máu. Trong từng căn nhà đổ nát. Người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chiến đấu. Không lùi bước. Không đầu hàng.

Đại đội Hắc Báo.

Các đơn vị Nhảy Dù.

Thủy Quân Lục Chiến.

Bộ binh.

Địa phương quân.

Nghĩa quân…

Họ chiến đấu từng mét đất. Từng góc phố. Từng căn phòng. Nhiều nơi không có pháo binh. Không có xe tăng.

Chỉ có khẩu súng trên tay và ý chí phải giữ thành phố.

Một trung sĩ trẻ nhìn đồng đội ngã xuống. Anh nghiến răng:

— Không được lùi!

— Sau lưng mình là Huế!

Và họ tiếp tục tiến lên.

Rồi đến Lam Sơn 719. Năm 1971.

Lần đầu tiên quân đội miền Nam tiến sang đất Lào mà không có quân chiến đấu Mỹ đi cùng. Khắp các ngọn đồi.

Khắp các cánh rừng. Máu đổ như mưa. Một tiểu đoàn bị bao vây lần thứ nhất. Rồi lần thứ hai. Lần thứ ba. Lần thứ tư. Lần thứ năm. Lần thứ sáu.

Người lính trẻ hỏi tiểu đoàn trưởng Trần Ngọc Huế:

— Thưa thiếu tá… mình còn sống trở về không?

Ông nhìn những khuôn mặt đen sạm vì thuốc súng.

— Không biết.

— Nhưng còn thở thì còn đánh.

Đó không phải khẩu hiệu.

Đó là thực tế. Khi chiến dịch kết thúc. Chỉ còn 26 người sống sót. Hai mươi sáu người.

Từ một đơn vị hàng trăm lính…

Rồi đến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Quảng Trị. Kontum. An Lộc.

Ba cái tên làm rung chuyển chiến tranh Việt Nam.

Từng sư đoàn Bắc Việt tràn xuống như thác lũ. Xe tăng.

Pháo binh. Hỏa tiễn. Hàng chục ngàn quân.

Nhưng họ không gặp một quân đội tan rã như tuyên truyền từng mô tả.

Họ đụng những người lính Việt Nam Cộng Hòa đang tử thủ. Tại An Lộc. Một sĩ quan nói với thuộc cấp:

— Nếu thành phố này mất.

— Sài Gòn sẽ rung chuyển.

Người lính trẻ gật đầu:

— Vậy thì tụi mình chết ở đây.

Thành phố không mất. An Lộc đứng vững.

Kontum đứng vững.

Quảng Trị rồi được tái chiếm.

Đó là những chiến thắng mà lịch sử thế giới ít khi nhắc tới.

Vậy vì sao miền Nam thất thủ?

Đó là câu hỏi đau đớn nhất!

Không phải vì người lính, không chiến đấu. Không phải vì họ thiếu can đảm. Không phải vì họ không đổ máu.

Hơn 200.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống. Hàng triệu gia đình mất cha. Mất chồng. Mất con.

Không một dân tộc nào trả giá như thế nếu họ không tin vào điều mình đang bảo vệ.

Nhưng một quân đội được xây dựng để chiến đấu trong liên minh. Khi đồng minh rút đi. Khi viện trợ bị cắt. Khi nhiên liệu không còn. Khi đạn pháo binh phải tiết kiệm từng viên. Khi xe tăng nằm bất động vì thiếu phụ tùng.

Thì cuộc chiến trở thành một cuộc chiến không cân sức.

Ngày cuối cùng của cuộc chiến. Nhiều người lính vẫn còn chiến đấu. Nhiều người chọn ở lại. Nhiều người vào tù. Nhiều người vượt biển.

Nhiều người nằm lại ngoài khơi.

Và rồi lịch sử dần khép lại.

Nhưng không phải sự thật.

Sự thật là có một quân đội đã chiến đấu suốt hai mươi năm.

Có những người lính đã hy sinh tuổi trẻ, gia đình và mạng sống của mình. Có những người anh hùng không được dựng tượng. Không được nhắc tên trong sách giáo khoa. Không được thế giới biết đến.

Nhưng họ đã từng tồn tại.

Đã từng chiến đấu.

Đã từng ngã xuống.

Và như giáo sư Andrew Wiest đã nói:

“Quý vị là những người anh hùng. Và tôi chỉ là người kể lại câu chuyện của quý vị.”

Đôi khi, điều công bằng nhất mà lịch sử có thể làm…

Là nhớ lại những người đã bị lãng quên.

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Đôi Bờ

 

Cầu Hiền Lương bắt ngang sông Bến Hải. Ảnh: Wikipedia.

Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội.  Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.

Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mát chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vã mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.

Đôi Bờ bỗng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng – như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam – nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.

Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn, Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệch khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẳn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hãn khi tràn vào đánh vào Quảng Trị

Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hãn, cho thấy sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.

Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia  từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.

Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn  bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau – với một người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.

Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vượt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…

Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn;  Thái Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do – đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.

Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!? Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.

Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.

Lỗi đâu ở kẻ đổi thay – Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.

Thương nhau chẳng giữ được nhau – Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.

Mai sau gặp lại muộn màng – Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.

Tha thứ để nhẹ lòng mình – Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.

Còn những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.

Lại có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.

Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không

ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.

Thiếu gì trường hợp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang một bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên nhưng thật khó.

Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt

Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay cách một đại dương

Khi viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.

Với dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi – Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.

Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẽ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Người Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gãy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cầu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẽ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Người Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gãy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cầu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

Qua bản nhạc, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất. Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ – Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”

Bạn đọc thân mến, trong thi ca nhạc của lớp người xa xứ, mang kiếp người di tản buồn còn rất rất nhiều những bản nhạc không thể nào kể hết. Như : Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Saigon Vĩnh Biệt, Một Chút Quà Cho Quê Hương, Giã Từ Vũ Khí, Saigon Thuở Đó Làm Sao Quên, Một Lần Đi, Đêm Nhớ Về Saigon. Và vân vân….

Nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình, một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc — câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi mà không biết ngày trở lại.

Và chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.

Bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẫm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị âm thầm chiếm đóng, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nữa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đình chờ tin nhau bất kể đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau – như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình đến sống cạnh mình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa – là điều sẽ còn mãi.

Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc… ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.

Vĩnh Chánh, 2026

Nguồn: https://vietbao.com/p316377a325445/doi-bo

Bên kia sông Soài Rạp

 

Nhìn trên bản đồ, con sông Sài Gòn chảy qua quận Tư, thêm một đoạn sang Quận 7 rồi nhập vào một con sông có bề rộng gấp đôi là sông Soài Rạp. Ở phía khác, giữa sông Soài Rạp và Đồng Nai có cây cầu Long Thành bắc qua.

Ðường gạch chấm mảnh chia đôi mặt nước, một nửa là Đồng Nai, một nửa là thành phố HCM. Con sông lượn lờ qua Quận 9, rồi quận 2, quận 7, Nhà Bè và chấm dứt ở ngã ba sông Vàm Cỏ với sông Tiền rồi đổ ra biển.

Đó là tôi thấy trên bản đồ, còn Wikipedia cho biết, con sông làm ranh giới tự nhiên giữa Cần Giờ và Nhà Bè, giữa Cần Giờ và Cần Giuộc, giữa Cần Giờ và Gò Công Đông. Với chiều dài khoảng 40km, khúc sông rộng nhất khoảng 3km về phía hạ lưu cho biết đây là con sông lớn.

Một ngày trực diện bờ sông Soài Rạp với khoảng cách chưa tới trăm mét từ hồ bơi trên tầng hai của một chung cư gần nhà, tôi có hơi thất vọng bởi không như lâu nay tôi nghĩ có chút lãng mạn về nó. Dọc theo mé sông là những căn nhà tiền chế, bến tàu, nhà tạm… mỗi khi triều rút lộ ra đường dẫn xuống bến bóng mịn lớp bùn dày khiến bước chân ham khám phá cũng đành bất lực, chào thua. Những chiếc tàu neo đậu, trên đó là hàng hoá chờ đi hay nằm bến đợi dỡ xuống. Gần như không có một chuyển động mềm mại như hàng dừa, chiếc nón lá đi chợ về nghiêng nghiêng trên ghe, lũy tre xanh… mà tôi hay thấy ở những bờ sông thường ra ngồi cà phê, ngắm cảnh.

Nhưng rồi, tôi nghĩ về nhiệm vụ đặc biệt mà con sông đang gánh trên mình nó với những chiếc tàu hàng container lừng lững xuôi ngược, một cách rất khác: mạnh mẽ và sống động. Khi tư tưởng được đả thông, nhìn dòng nước lặng lờ nhưng chở trên mình nó những chiếc thuyền lực lưỡng, sức vóc tôi nhận ra, cái sự đòi hỏi một con sông ẻo lả bóng dừa của tôi quả thật vô lý!

Phà từ Cần Giờ qua Hiệp Phước

Hôm tôi đặt cọc mua căn chung cư có ban công nhìn ra sông, ở một vị trí áng chừng theo đường chim bay khoảng hơn 300m, tôi cứ nghĩ nó chỉ là một con sông nhỏ.  Rồi đến khi về ở, đêm đêm, về sáng hay chiều muộn nghe tiếng còi tàu và thấy ghe, tàu, sà lan xuôi ngược tôi mới hiểu ra, con sông là luồng tàu biển thứ hai sau luồng sông Lòng Tàu cho phép tàu có trọng tải lớn đưa hàng hoá xuất nhập về thành phố, là cửa ngõ chính cho các tàu lớn ra vào cảng quốc tế Hiệp Phước. Có nghĩa, nơi mỗi sáng sớm hay chiều xong việc, hay đêm trăng nơi tôi thư giãn, ngẫm ngợi cuộc đời là con đường thuỷ chiến lược của một thành phố hơn chục triệu dân.

Hồi mới dọn đến, choán tầm mắt nhìn ra sông của tôi chỉ có hai khối nhà cao tầng, không bao nhiêu so với chiều dài con sông. Nhưng rồi, không nhớ từ khi nào hai khối nhà nữa mọc lên. Con sông trong mắt tôi bị mất mát đôi chút nhưng vẫn ổn, đủ để tôi có chỗ thư giãn mỗi ngày, dự đoán thời tiết của thành phố bằng màu nước sông, ánh mặt trời hay màn sương, màu mây… Thích nhất là những đêm trăng sáng, nhìn từ cửa số bất kỳ phòng nào cũng thấy trăng là điều mà cả đời dài không phải ai cũng có được hạnh phúc này. Điều thú vị nữa, với tầm nhìn thoáng rộng, mùa tháng 5 – 6 tôi lại được ngắm cầu vồng sau mưa. Đẹp ảo diệu, ngộp thở!

Thỉnh thoảng, nhìn qua bên kia sông xanh dày màu lá, tôi ước ao được một lần qua bên ấy và tưởng tượng mình sẽ thấy những gì. Cái ý muốn ấy còn khiến tôi muốn sắm một cái ống dòm để nhìn sông rõ hơn, ngóc ngách tận bờ bên kia.

Một bạn tôi bảo rằng, ngày xưa có chuyến tàu cao tốc đi dọc sông này đến tận Cần Thơ, bây giờ không còn nữa càng khiến tôi khao khát được một lần ngang, dọc những con sông trong cụm: Soài Rạp, Lòng Tàu..

Chờ phà qua Cần Giờ

Từ nhà tôi, đi hết con đường khoảng 6km là đến nơi 3 sông lớn gặp nhau: Nhà Bè, Soài Rạp, Lòng Tàu, muốn qua bên kia sông có hai tuyến phà, một nhánh qua Cần Giờ, một nhánh qua Nhơn Trạch, Đồng Nai.

Buồn buồn không biết đi đâu, tôi lại đi phà qua sông chơi.

Qua phà Phước Khánh, đi thêm một đoạn mà rẽ trái tôi sẽ đến phà Cát Lái, rẽ phải tôi đến Vĩnh Thanh, nơi đây có rất nhiều nhà thờ Công giáo với khoảng cách không xa nhau lắm, trên một trục đường. Tôi ghé vào Đan Viện Thánh Mẫu Khiết Tâm Phước Lý, bao quanh là một vùng cây xanh thẳng tắp. Tôi ngồi lại trên ghế đá, trong không gian tĩnh là một sự thinh lặng nhưng sống động, thấy lòng thật bình an. Những tảng đá lớn điểm xuyết trong “khu rừng” tí hon này khiến tôi có cảm giác như lạc trong vườn thiền. Điều thú vị nữa, con đường đối diện Đan viện, đi vào bên trong có tượng đài Đức Mẹ Phước Lý. Có rất nhiều người đến đây dâng hoa, cầu nguyện, đọc kinh. Chiều ở đây đẹp và êm đềm quá với hồ nước, vườn cây…

Tiếp tục theo con đường chính dọc theo sông Ông Kèo. Hai bên vẫn còn rừng ngập mặn, tuy không nhiều nhưng không khí mát mẻ, dễ chịu. Có người nói với tôi rằng, ngày xưa nơi đây rừng âm u lắm, chỉ có cọp và cá sấu, con đường đang đi là đường mòn nhỏ hẹp. Vật đổi sao dời, giờ tìm đâu ra khí hậu, môi trường lý tưởng như ngày xưa?

Vườn cây trong Đan Viện Thánh Mẫu Khiết Tâm Phước Lý

Dừng lại một quán bên đường bán thuỷ sản, nước giải khát… Từ bên dưới sông một người xách lên chiếc lưới đầy cá, tôm còn sống vừa đánh bắt. Từ đây nhìn ra vàm sông Đồng Tranh, là nơi sông Ông Kèo đổ vào sông Đồng Tranh.

Sông trưa man mác buồn khiến lữ khách vương một nỗi nhớ bâng khuâng. Tôi vẫn thường có cảm giác đó mỗi khi dừng lại bên một khúc sông trưa vắng trên bất kỳ nơi nào khắp miền đất nước. Tuy nhiên tâm trạng sẽ khác bởi sông các miền không giống nhau. Sông miền Nam mênh mông, miền Trung sông nhỏ, hiền hoà; độ hùng vĩ, khúc khuỷu của những dòng sông ở miền Bắc luôn tạo cảm giác muốn thử thách đôi chân.

Một khu du lịch nổi tiếng ở vùng này có tên Bò Cạp Vàng. Hai ngày cuối tuần các bạn trẻ đến đây rất đông, ở đây có các trò chơi sông nước, các món ăn đặc biệt của vùng… Bên dưới, một chiếc ghe xoay chiều theo dòng nước chảy; trên ghe, áo bà ba, chiếc nón lá làm nên bức tranh sông đẹp thanh bình, nên thơ.

Rồi một ngày, tôi khám phá thêm bên kia sông Soài Rạp từ một phía khác.

Đan Viện Thánh Mẫu Khiết Tâm Phước Lý

Hồi đó thường đi xe buýt số 72 hay 110 đến cầu Kênh Lộ (Hiệp Phước – Nhà Bè) là điểm cuối của hai tuyến này.

Con đường còn dài bên kia cầu tôi quên bẵng vì coi bản đồ Google khi ấy nó không có đường dẫn đến nơi nào rõ ràng. Hôm đó, tôi đi qua cầu với nghĩ ý bây giờ chắc có đường mở đến Long An. Chúng tôi chạy hoài không thấy đường mở, bản đồ cũng không rõ ràng có phố xá… Nhưng rồi mới biết có bến đò Doi Lầu, qua phà sẽ đến Nhơn Lý – Cần Giờ, rồi ra đường Rừng Sác về lại phà Bình Khánh (*).

Tôi đứng bên này nhìn về bên kia sông Soài Rạp và nghĩ về những điều tích cực của cuộc sống. Cần Giờ là một dải màu xanh bên kia bờ sông rộng. Một cậu chàng khoảng tuổi 40 chở hai nhóc tì đang chờ phà cùng tôi. Cậu ta nói: “Cháu cũng đi cho biết đường này. Nhân tiện chở các con đi khám phá luôn”.

Trong khu du lịch Bò Cạp Vàng

ĐTTT

Nguồn: https://baotreonline.com/tin-tuc/phong-su/ben-kia-song-soai-rap.baotre

Friday, 15 May 2026

NÊN ĐỌC ĐỂ BIẾT TỔNG THỐNG HOA KỲ DONALD TRUMP NHƯ THẾ NÀO?

 Trong suốt gần một tháng ở nhà theo dõi tình hình hiện nay, tôi nhận ra một vấn đề mà trước giờ ít để ý tới đó là những bài viết về TT Trump hầu như đều là chê trách, đổ lỗi, rất khó tìm đọc được một bài viết nào có quan điểm tích cực về ông ấy. Ngồi xem live các buổi họp báo từ Toà Bạch Ốc, tôi ngạc nhiên khi nhiều nhà báo đặt những câu hỏi kiểu gài bẫy chờ Trump sơ hở lỡ miệng chỗ nào đó để làm mồi cho truyền thông nhảy vào xâu xé. Những câu hỏi, trả lời được cắt ghép cho những bài viết, những video bình luận tiêu cực đã được lên ý đồ sẵn để định hướng người xem ngập tràn trên YouTube, Facebook…


Thắc mắc với câu hỏi tại sao truyền thông ghét Trump như vậy? Sao nhiều người chửi ông? ông ấy đã làm những gì? Tôi tìm được một phần lớn câu trả lời cho mình qua quyển sách dài của Doug Wead: Inside Trump’s White House. Sách vừa được xuất bản tháng 11 năm 2019.May be an image of the Oval Office


* Doug Wead đã viết hơn ba mươi quyển sách và là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất của New York Times. Wead đã phỏng vấn trực tiếp với sáu đời Tổng thống Mỹ (TT Trump là người thứ 6). Ông cùng là tác giả xuất bản chung một quyển sách với cựu TT George Bush. Ông từng là thành viên cố vấn cấp cao của Tòa Bạch ốc. Ông là một trong rất ít những nhà sử học hiện tại còn sống cùng viết về 44 đời Tổng Thống Mỹ. Đây là quyển sách ông viết về những gì TT Trump đã làm được trong ba năm qua. Với một tiểu sử sự nghiệp nổi bật như vậy, TT Trump đã thật sự đặc biệt như thế nào để nhà sử học Wead viết hẳn một đầu sách về mình?

* Tác giả Wead được TT Trump đồng ý để ông ấy ghi âm lại tất cả những cuộc phỏng vấn giữa ông và Tổng thống cũng như với tất cả thành viên gia đình Trump và các tư vấn cấp cao khác. Đây là một yếu tố giúp Wead tiếp cận nguồn thông tin quan trọng và viết chính xác nhất những gì đang diễn ra. Lịch sử mà chúng ta đã đọc về Washington, Lincoln, Roosevelt, hay Kennedy… đã được ghi lại xác thực ra sao thì giờ đây với Wead, ông ấy cần làm gì để thế hệ sau có thể tiếp cận được nguồn tư liệu đúng nhất về TT Trump? Tất cả sẽ nhờ vào những gì được ghi ngay lúc này và ông ấy muốn mình phải ghi lại sự thật một cách công tâm nhất.

* Lý do gì mà một tỷ phú rất thành đạt trong cả hai lĩnh vực bất động sản và show truyền hình như Trump lại quyết định ra tranh cử Tổng thống. Trump đã gầy dựng lên một thương hiệu nổi bật cho chính mình, rõ ràng ông ấy không cần phải làm tổng thống để được nổi tiếng hay để giàu hơn.

* Khi Wead phỏng vấn các con của Trump, Ivanka, Eric và Don Jr., Wead không ngạc nhiên khi họ kể về những lần nhìn thấy cha họ bực tức xé toạt bài báo khi biết chính phủ Mỹ vừa ký kết một hiệp định nào đó gây bất lợi cho Mỹ. Trump bực tức khi nhìn thấy hàng trăm ngàn công việc ở Mỹ được mang đi nơi khác.

Trump nhìn thấy cái hố mà Mỹ đang từ từ lún xuống vì những ký kết ông thẳng thắn lên tiếng là rất nguy hại cho Mỹ từ những người đi trước (1 lý do bị ghét tơi bời là đây). Những ký kết mà lợi ích chỉ đem lại cho các nước khác từ Trung cộng cho đến Tây Âu, và càng đè gánh nặng lên vai tầng lớp trung lưu Mỹ khi cõng những lợi ích đó qua cái gọi là THUẾ.

* Wead không ngạc nhiên vì sao, vì ông đã từng là thành viên tư vấn cấp cao ở Tòa Bạch Ốc ông hiểu rõ cơ chế đằng sau những ký kết đó, hiểu rõ những nhóm lợi ích đứng sau giật dây, hiểu rõ truyền thông đã bị mua chuộc như phương tiện tuyệt vời để đánh lạc hướng dư luận hay nói nặng hơn thì đó gọi là tẩy não.

Dù từng là cố vấn cấp cao của hai đời Tổng thống Mỹ thuộc đảng Cộng Hòa, Wead nhận định thẳng thắn rằng Tổng thống Mỹ ở cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ít nhiều đều bị chi phối bởi các thế lực ngầm đứng sau, những thế lực có thể ôm trọn truyền thông và bắt nó hoạt động theo ý mình.

Nhưng Trump lại khác, ông ấy đã là tỷ phú, ông không cần tiền của những thế lực đó làm bàn đệm để nhảy lên, ông ấy cũng không cần phải lấy lòng những thế lực đó để dọn đường cho cuộc sống hưởng thụ an nhàn sau khi rời nhiệm kỳ.

* Wead cho rằng là một doanh nhân thành đạt chưa từng bước vào con đường chính trị, ông Trump không bị dẫm vào lối nghĩ gò bó rập khuôn, không bị chui vào những cái hộp được đóng sẵn như các chính trị gia trước đây. Sự giải phóng này giúp ông nhìn rõ “bệnh tình” của nước Mỹ theo một hướng khác và rõ ràng đã có những kế hoạch phù hợp hơn.

Tuy nhiên việc TT Trump từng bước phá vỡ những quy luật bất thành văn trong giới chính trị, gây đe dọa đến những lợi ích nhóm đứng sau đã khiến ông giống như một con sói đầu đàn đơn độc bị cả đàn vây hãm tấn công trong suốt thời gian qua.

Tôi tưởng TT Trump bị truyền thông và giới chính trị gia đánh tơi tả từ khi ông trúng cử nhưng thật sự thì ông đã bị “ném bom” từ khi mở lời ra tranh cử.

* Tìm đọc lại những nguồn thông tin từ Wead ghi trong sách, tôi phải thật sự là nể sự phớt lờ của Trump với cánh truyền thông.
Bất kể phát ngôn nào của Trump cũng bị truyền thông moi móc. Khi Trump nói ông có kế hoạch sẽ mang việc làm về Mỹ, sẽ làm cho kinh tế Mỹ tăng lên, làm cho Mỹ hùng mạnh trở lại….

Cánh nhà báo giật tít chửi rủa, chính trị gia ở cả 2 đảng cười nhạo như “Heo thì làm sao biết bay”; “hắn có cây phép thuật à”; “bí mật ở các kế hoạch của hắn là hắn chả có kế hoạch nào cả”; “Trump đang mơ đấy”… Cả Hollywood, các giới tỷ phú, giới nghiên cứu học thuật đều chống lại Trump.

* Bỏ ngoài tai tất cả những châm biếm, tấn công từ truyền thông, sự chống đối từ đảng đối lập và ngay cả những chính trị gia cùng đảng Cộng Hòa, cả 5 đời cựu Tổng thống Mỹ thời điểm đó đều không chọn Trump, nhưng cuối cùng ông đã thắng trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người khắp nơi.

Đó có phải là may mắn? Wead đã viết lại rất chi tiết về hành trình tranh cử đầy đơn độc và khó khăn của ông Trump. Nhờ đó mà người ta sẽ biết được sự thật TT Trump cùng những người con lớn đã tiếp xúc với các cử tri của mình như thế nào, sẽ biết được sự thật đảng đối lập đã dùng truyền thông đưa sai thông số dự báo về tỉ lệ bầu chọn để làm nhụt chí những người ủng hộ tin rằng Trump sẽ thua ra sao.

* Lý do gì Wisconsin trong suốt 32 năm chỉ bầu cho ứng viên đảng Dân Chủ đã quay qua bỏ phiếu cho Trump.

Ông đã thắng Ohio như thế nào, 1 tiểu bang trong suốt 44 đời Tổng thống qua hễ ứng viên nào chiếm được phiếu bầu thì người đó sẽ thắng cử. Tại sao có những cử tri tự nhận rằng họ đã bỏ phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ cả đời của họ, lý do gì làm họ thay đổi lần bầu cử này.

Làm thế nào Trump dành được phiếu bầu những nơi mà nhà Clinton còn không thèm đến vận động vì tin chắc phần thắng thuộc về mình. Tại sao Florida gần như nắm chắc phần phiếu về cho Hillary Clinton nhưng cuối cùng đã làm cho đảng Dân Chủ ngỡ ngàng ở phút cuối. Rõ ràng đó không phải là may mắn.

* Nếu Wead không viết quyển sách này có lẽ chúng ta sẽ không biết rằng thật sự Mỹ đã gần như có chiến tranh với Triều Tiên ra sao. Khi cựu tổng thống Obama rời nhiệm kỳ, Obama thừa nhận rằng Kim Jong-un sẽ là vấn đề lớn nhất mà ông Trump sẽ phải đối mặt.

Thật thú vị khi đọc đoạn đối thoại của TT Trump và Kim qua cách kể lại từ Wead. Vấn đề Trump nhận ra ở Kim đó là những tên độc tài thường uy hiếp kẻ yếu, không phải kẻ mạnh hơn.

Tuy nhiên ông đã rất cẩn trọng và đã thành công trong việc đàm phán lần thứ nhất với Kim tại Singapore. Chấm dứt việc thử vũ khí hạt nhân, đưa con tin bị bắt giữ, đưa hài cốt lính Mỹ ở Triều Tiên từ cuộc chiến Nam Hàn về Mỹ, một kết quả tuyệt vời mà Wead cho biết phải mất 11 đời Tổng thống để thực hiện.

Hội nghị đàm phán lần thứ hai tại Hà Nội lẽ ra có thể đã có kết quả tốt đẹp nếu như truyền thông Mỹ không cố tình “vạch áo cho người xem lưng”. Tại sao ngay thời điểm quan trọng của việc đàm phán, kênh truyền hình trên màn ảnh tivi được chia ra làm đôi với 1 bên là hình ảnh trực tiếp hội nghị Mỹ-Triều Tiên tại Hà Nội, 1 bên là hình ảnh Hạ viện Mỹ đưa ra những cáo buộc khác về Trump?

Đó chẳng phải là một thông điệp cho cả thế giới biết nội bộ Mỹ đang bị chia cắt sao. Bằng cách nào đó Kim rõ ràng đã nhận ra thông điệp đó.

Trump muốn duy trì hòa bình thế giới ư, hãy quay về giải quyết xung đột nội bộ trong nước trước đi. Đó là kết quả vì sao ở lần đàm phán thứ 2 ông đã không đạt được một thỏa thuận nào với Kim.
* Wead nhìn nhận thật chua xót khi sự thù ghét Trump đã làm cho những người chống đối ông sẵn sàng đạp lên danh dự và lợi ích của nước Mỹ để đạt được mục đích của mình.

Wead viết khi Trump tuyên bố Mỹ rút lui khỏi hiệp định biến đổi khí hậu Paris, giới hoạt động môi trường, truyền thông, đảng đối lập phản đối la ó. Dân chúng phần lớn cũng chửi ông mà không hiểu rõ cái hiệp định đó là về gì.

* Vâng, cái hiệp định ấy là để Mỹ phải tham gia bỏ tiền, đầu tư công nghệ, máy móc để dọn dẹp việc ô nhiễm môi trường của các nước như Trung cộng, Ấn Độ, Nam Phi…… Tiền từ đâu, từ tiền thuế dân Mỹ mà ra cả.

Những người chửi Trump liệu khi biết tiền thuế của mình trước giờ phải cõng luôn cái việc dọn dẹp vệ sinh cho những nước chuyên gây ô nhiễm đó thì có còn muốn la làng lên nữa không?

Khi Obama ký tham gia hiệp định Paris 2016, truyền thông đã không hề nêu rõ nội dung về nó cho dân Mỹ biết, tất cả chỉ được viết ngắn gọn rằng nó tốt cho việc bảo vệ môi trường. Nhờ truyền thông che đậy, Obama lại được thêm lòng dân qua phong cách quí ông lịch lãm biết yêu môi trường. Nhưng sự thật thì Obama đã vi phạm điều lệ Byrd-Hargel Resolution thông qua năm 1997 qui định rằng Mỹ không được ký kết bất cứ hiệp định nào về việc làm sạch môi trường ở các nước đã nêu ở trên mà không kèm theo những quy định bắt buộc những nước đó phải có biện pháp hạn chế việc gây ô nhiễm ở chính nước của mình.

Thế mà khi ông Trump rút lui khỏi hiệp định, nước Mỹ gào lên chửi.
* Wead châm biếm, dường như truyền thông đã nhào nặn thành công một hình tượng Obama bóng láng không tì vết trong lòng hơn một nửa dân chúng Mỹ.

Vì mang danh là anh cả của thế giới, Mỹ phải đang è cổ bao bọc quân sự miễn phí cho các nước Hàn, Nhật, Ả rập, khối NATO… cho tới khi TT Trump đem bàn cân ra đặt lại. Ông cho rằng thật vô lý khi Mỹ phải bỏ ra hàng tỷ mỹ kim để tạo nên những đầu đạn, tên lửa, vũ khí và tặng không cho các nước đang được coi là siêu cường của thế giới.

* Giới ngoại giao, báo chí, tướng tá lại nhao lên lo sợ Mỹ sẽ làm mất lòng các đồng minh Á- Âu. Trump đã thẳng thắn gọi đó là mối quan hệ lợi dụng và giữ vững lập trường của mình. Thông điệp của ông rất rõ:

“Vâng, đồng minh quan trọng nhưng Mỹ vẫn quan trọng hơn”.
Mỹ không thể bị bòn rút như vậy nữa. Đức, Nhật không còn là những nước lụi bại sau chiến tranh.

Rõ ràng hiện nay họ đã là các cường quốc. Hãy nhìn nền kinh tế và sự phát triển của Nam Hàn, Ả Rập xem, đó là những nước nghèo yếu cần bảo vệ miễn phí sao? Với tài thương lượng của mình ông lại thành công trong việc bớt đi một gánh nặng trên lưng tầng lớp trung lưu Mỹ. Không những thế, nhờ Trump mà hệ thống phòng ngự NATO đã trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Về kinh tế, Wead thừa nhận trong vài chục năm qua chưa có đời Tổng thống nào đưa Mỹ đạt được mức tăng trưởng kinh tế tới 4.3 như Trump vào thời điểm Wead kết thúc quyển sách.

* Trump đã làm gì để thay đổi những luật lệ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước từ thời Clinton, Bush và Obama để khiến cho các hãng xưởng dần bốc hơi qua bên kia bán cầu.

Ông đã làm gì để mang các hãng xưởng về lại Mỹ? Là một nhà kinh doanh ông Trump hiểu rõ cái gọi là thương mại tự do hoàn toàn không mang lại lợi ích bằng nhau cho đôi bên, mà đó là cái bẫy bên được bên mất.

Hãy tưởng tượng với 1 hãng xưởng được mở ra tại Trung cộng từ doanh nghiệp Mỹ sẽ đồng nghĩa với việc 1 hãng xưởng tại Mỹ bị đóng đi.

Khi dân Trung cộng có việc làm, dân Mỹ sẽ bị mất việc. Chúng ta tin rằng việc mang việc làm sang những nước có giá nhân công thấp để đổi lại được mua sản phẩm rẻ hơn là điều có lợi cho đôi bên nhưng thật sự đó là cái bẫy.

Ngay lúc này, cái bẫy mà không riêng gì Mỹ mà cả thế giới đang mắc phải đã lộ rõ qua việc thiếu hụt đồ y tế do phụ thuộc vào khâu sản xuất từ nước nào thì mọi người đã biết. Thật tiếc khi TT Trump chưa kịp dẹp hết cái bẫy này thì lại đang bị chỉ trích từ nhiều phía về tình hình hiện tại.

* Vì sao giới học thuật, các trường đại học Mỹ thường ủng hộ cho Dân Chủ?

Vì sao các ứng viên của đảng này luôn mang những vấn đề về súng, về việc xóa hết nợ cho sinh viên, về y tế, về dân nhập cư, về đường lối ngoại giao song phương mềm mỏng… để làm chủ đề chính cho những cuộc vận động tranh cử.

Liệu những vấn đề đó có thật sự tốt như nó được hứa từ các ứng viên.

Liệu nó giúp Mỹ đứng vững hay suy yếu thêm trên đấu trường thế giới.

Đối tượng tầng lớp nào họ đang hướng đến để kiếm được sự ủng hộ.

Tại sao lại trì hoãn ngăn chặn dân nhập cư bất hợp pháp?

Tại sao đảng Dân Chủ đưa ra ý kiến đồng thuận việc cấp bảo hiểm y tế cho dân nhập cư lậu trong cuộc bầu cử sắp tới? (Ôi, lại tiền thuế!)

Liệu có phải di dân lậu từ các nước Nam Mỹ thông qua cửa ngõ Mexico là một nguồn lợi nhuận dồi dào mà chỉ có dân chính trị gia, lợi ích nhóm ngầm thỏa hiệp với nhau mới hiểu rõ?… Hãy đọc và tìm câu trả lời qua lối viết lôi cuốn rõ ràng từ Wead.

Có nhiều những thành tựu khác mà TT Trump đã đạt được chỉ trong hai năm đầu nhiệm kỳ mà Wead phải thừa nhận rằng chưa có đời Tổng Thống gần đây nào đạt được như vậy.

Từ kinh tế, quân sự, đàm phán ngoại giao cho đến giải thoát con tin Mỹ, tiêu diệt khủng bố.. Trump đều hoàn thành nhanh gọn.
Nhưng phần lớn truyền thông và đảng đối lập sẽ không dễ dàng thừa nhận những thành tựu đó.

TT Trump đang là cái gai đã gây tổn thất quá nhiều cho lợi ích nhóm mà họ sẽ phải dùng mọi thủ đoạn để nhổ bỏ đi..

Đó là lý do tại sao phải tạo ra giả thuyết tố cáo Trump đã bắt tay với Nga gian lận trong bầu cử (tốn 40 triệu $ để điều tra từ tiền thuế dân!) Khi không tìm được chứng cớ thì lại tạo ra phiên tòa luận tội vô lý mà kết quả như thế nào thì ai cũng biết rồi.

Chắc chắn ông Trump sẽ còn chịu nhiều chống đối khác cho đến khi đảng đối lập và các nhóm lợi ích đạt được mục đích của họ.
Kết thúc quyển sách của mình, Wead để người đọc tự tìm ra câu trả lời cho tương lai của nước Mỹ qua những con số xác thực, những vấn đề quan trọng ông đã đưa ra phân tích. Liệu những thành quả mà TT Trump đạt được sẽ được người sau tiếp nối hay dẹp bỏ? Wead cho rằng sẽ sớm thôi khi những cuộc tranh cử theo lối mòn cũ trở lại khi ông Trump ra đi, khi các ứng viên Tổng thống được đo ni đóng gót khác trong guồng máy chính trị được đưa lên, khi Mỹ lại dẫm vào những cái bẫy kinh tế ngoại giao khác.

Khi Mỹ đánh mất vị trí số 1 của mình, dân Mỹ sẽ tỉnh giấc nhìn ra sự thật về những việc Trump đã làm luôn hướng đến “America First” như thế nào. Nhưng thật tệ là lúc đó đã quá muộn!

(Ann Nguyễn)

______
Nguồn:
Wead, Doug. Inside Trump’s White House. New York: Center Street, 2019
Fox News Live
———-
Xin lưu ý: tôi viết bài này để truyền tải lại một phần nội dung và giới thiệu quyển sách tác giả Doug Wead đã viết. Xin phép không tranh luận vấn đề yêu hay ghét, đúng hay sai của ông Trump. Nếu thấy phù hợp hãy tìm đọc và share bài viết để nhiều người biết đến quyển sách bán nhiều nhất, và chắc chắn quyển sách sẽ không làm bạn thất vọng.
Ảnh:
Wead in September 2011.
Born Douglas Wead
May 17, 1946 (age 73)
Muncie, Indiana, U.S.
Occupation Writer, political commentator
Political party Republican

http://chinhnghiavietnamconghoa.com/nen-doc-de-biet-tong-thong-hoa-ky-donald-trump-nhu-the-nao-ann-nguyen/

Vietnamese Heritage Museum

https://www.youtube.com/@VietnameseMuseum/featured