Có những người phụ nữ không được lịch sử nhắc tên.
Nhưng họ đã hy sinh cả tuổi xuân của mình bằng một chữ rất đơn giản:
Chờ.
Sau năm 1975, khi người chồng bị đưa vào tù trại cải tạo, không ai biết ngày về là bao giờ.
Ba tháng?
Ba năm?
Hay mười năm?
Không một tờ giấy bảo đảm.
Không một lời hứa.
Chỉ là những đứa con thơ ngơ ngác hỏi:
– Má ơi… chừng nào ba về?
Người mẹ quay mặt đi, lén lau nước mắt.
– Rồi ba sẽ về…
Chính bà cũng không biết câu trả lời ấy có thật hay không.
Những năm tháng ấy, người vợ lính sống
trong muôn vàn thiếu thốn. Ban ngày ra đồng, buôn thúng bán bưng, gánh
hàng thuê. Đêm về vá áo cho con dưới ánh đèn dầu leo lét.
Có người thương cảnh mẹ góa con côi. Có người thật lòng. Có người ngỏ ý:
– Em còn trẻ… để anh lo cho mẹ con em. Đời còn dài, chờ làm gì…
Bà chỉ cúi đầu, im lặng. Một lúc sau mới nhỏ nhẹ:
– Cám ơn anh. Nhưng chồng em vẫn còn sống.
Người kia thở dài:
– Biết đến bao giờ ảnh mới về?
Bà nhìn về phía xa, nơi cuối con đường đất.
– Em cũng không biết… Nhưng em tin ảnh sẽ về.
Chỉ vậy thôi. Không phải vì bà không cô
đơn. Không phải vì bà không cần một bờ vai. Mà vì trong lòng bà vẫn còn
nguyên lời hứa ngày cưới.
“Dù giàu hay nghèo, dù hoạn nạn hay gian nan…”
Bao nhiêu lần nghe tin người này chết trong trại. Bao nhiêu lần nghe người kia mất vì bệnh. Đêm nào bà cũng cầu nguyện:
Xin Chúa gìn giữ người chồng nơi rừng sâu. Xin cho anh còn sống. Để một ngày nào đó…
Anh còn biết đường về nhà.
Mười năm. Có người chờ mười hai năm. Có người mười lăm năm.
Tuổi xuân lặng lẽ đi qua. Mái tóc đen ngày nào giờ đã lấm tấm bạc.
Ngày người đàn ông bước ra khỏi cổng trại cải tạo, chiếc áo rộng thùng thình trên thân hình gầy guộc.
Ông đứng trước căn nhà cũ.
Advertisement
Privacy Settings
Không dám gõ cửa.
Sợ… Sợ vợ đã đi lấy chồng. Sợ con không còn nhận cha.
Cánh cửa mở ra. Người phụ nữ đứng lặng.
Hai người nhìn nhau rất lâu. Không ai nói được lời nào. Chỉ có nước mắt
rơi. Bà mỉm cười:
– Em biết… thế nào anh cũng về.
Ông ôm lấy vợ, nghẹn ngào:
– Anh đã để em khổ quá…
Bà lắc đầu.
– Chỉ cần anh còn sống là được.
Có những cuộc tình không cần những lời yêu nồng cháy.
Chỉ cần một người đi. Một người đợi.
Và người đợi ấy đã giữ trọn lời thề suốt những năm tháng đen tối nhất của cuộc đời.
Đó là lòng chung thủy.
Đó là phẩm giá.
Và cũng là vẻ đẹp lặng lẽ của biết bao người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.
Advertisement
Privacy Settings
Họ không làm nên lịch sử bằng súng đạn.
Nhưng họ giữ gìn một mái ấm bằng sự hy sinh, lòng thủy chung và niềm tin không bao giờ tắt.
Phạm Sơn Liêm.
----
ÁO LÍNH TRONG TỦ GỖ
Có những di sản không phải là nhà cửa.
Không phải tiền bạc. Mà chỉ là một bộ quân phục đã bạc màu, một đôi giày
trận đã bong đế và một tấm thẻ bài bằng kim loại đã gỉ sét theo năm
tháng.
Người cha mặc bộ quân phục ấy lần cuối vào tháng Tư năm 1975.
Sau đó là những năm dài trong trại cải
tạo. Khi trở về, ông gầy như một cái bóng. Bộ quân phục đã không còn
được phép mặc nữa. Ông gấp thật ngay ngắn, đặt vào chiếc vali cũ rồi cất
trên nóc tủ.
Ông chưa bao giờ kể nhiều về chiến tranh.
Chỉ đôi lúc, ngồi một mình, ông mở chiếc vali, vuốt nhẹ lên hàng khuy áo
đã ngả màu, rồi lặng lẽ đóng lại.
Ngày ông mất, người con trai là người dọn chiếc vali ấy. Bên trong vẫn còn nguyên bộ đồ lính VNCH. Chiếc mũ trận.
Chiếc dây nịt. Một đôi giày đã cứng như gỗ. Và tấm thẻ bài đã gỉ sét gần hết, nhưng tên người cha vẫn còn đọc được.
Người con trai cầm lên rất lâu. Anh không khóc. Chỉ thấy lòng mình nặng như đang cầm cả một đời người.
Bạn bè nhiều lần bảo:
— “Giữ làm gì mấy thứ này?”
Anh chỉ cười.
“Là của ba tôi.”
Thế thôi.
Anh không mặc bộ quân phục ấy.
Không chụp hình.
Không đem trưng bày.
Nó chỉ được treo trong một góc tủ quần áo, phủ bằng một tấm vải trắng.
Nhưng năm nào cũng vậy Đến ngày giỗ cha.
Anh lại mở tủ. Đem bộ áo lính ra. Cắm điện bàn ủi. Cẩn thận vuốt từng
nếp áo. Ủi thật thẳng hai tay áo. Vuốt từng nếp quần. Đánh bóng lại đôi
giày cho sạch bụi. Lau chiếc dây nịt. Rồi dùng khăn mềm chà nhẹ tấm thẻ
bài gỉ sét. Tấm thẻ chẳng thể sáng lên nữa.
Nhưng anh vẫn lau.
Như thể đang lau lại ký ức của cha mình.
Vợ anh từng hỏi:
“Ba mất lâu rồi… sao năm nào anh cũng ủi?”
Anh nhìn bộ quân phục thật lâu rồi đáp nhỏ:
“Ba không còn để mặc nữa…”
“…nhưng bộ đồ này vẫn xứng đáng được tươm tất.”
Căn nhà im phăng phắc.
Đứa con trai nhỏ đứng bên cạnh nhìn cha. Nó chưa hiểu chiến tranh.
Chưa hiểu Việt Nam Cộng Hòa.
Chưa hiểu cải tạo.
Nhưng nó nhớ hình ảnh ba mình cặm cụi ủi
bộ quân phục cũ mỗi năm. Có lẽ nhiều năm sau nữa… Khi người con trai ấy
lớn lên. Chiếc tủ gỗ sẽ lại mở ra. Bộ quân phục sẽ được lấy xuống. Bàn
ủi sẽ lại nóng lên. Và tấm thẻ bài gỉ sét sẽ lại được lau bằng đôi bàn
tay của một thế hệ khác.
Không phải để nuôi hận thù.
Mà để gìn giữ lòng biết ơn.
Bởi có những người lính đã đi hết cuộc đời trong âm thầm.
Và có những người con, suốt cả cuộc đời, chỉ lặng lẽ làm một việc rất nhỏ:
Ủi lại bộ quân phục của cha vào mỗi ngày giỗ.
Đó không chỉ là ủi một tấm áo.
Đó là giữ cho ký ức của một người cha không bao giờ bị nhăn theo năm tháng.
Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi. Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng. Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp. Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên) Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự. Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí, tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái. Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy, ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai ...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ " của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ... Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam. Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng. Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thiều thào vào trong tai tôi : - Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé. Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng. Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình. Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi cho chồng tôi nghe. Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của của bác cho đồng bào miền Nam”.
Tác giả tên thật là Nguyễn Thị Kim
Loan, sinh năm 1966, là cô giáo tiểu học khi còn ở Việt Nam. Vượt biên
và sống ở trại tỵ nạn Thailand từ 1989-1993. Định cư tại Canada từ 1994
đến nay. Tác giả nhận giải Đặc Biệt VVNM 2021, Giải Vinh Danh Tác Giả
VVNM 2023 và giải Vinh danh Tác Phẩm VVNM 2025. Bài viết “Ngàn Lời Tạ
Ơn” của tác giả đăng trên Việt Báo VVNM vào tháng 11-2024 đã kể về một
người phụ nữ Việt bị ung thư máu được cứu sống nhờ tủy của một người
thanh niên gốc Đài Loan hiến tặng. Mấy năm trôi qua, người phụ nữ ấy
không quên ơn cứu mạng và đã cùng chồng bay đến Chicago để gặp vị ân
nhân đáng quý của mình. Bài viết sau đây ghi lại chuyến viếng thăm đầy
ân tình ấy.
***
Hai vợ chồng vừa xong chuyện mua vé máy bay đi Chicago trên máy computer, rồi ra bếp ăn cơm chiều, Hòa hỏi chồng:
– Tụi mình nên mang quà gì cho Yang và Winnie nhỉ?
– Anh cũng đang suy nghĩ, đương nhiên là sẽ mang quà rồi, nhưng chúng ta nên chọn món quà ý nghĩa.
– Ý nghĩa là sao chứ, khó quá! Tuy Yang là ân nhân, nhưng tìm quà ý nghĩa cũng khó, cậu ấy còn trẻ, mới hơn 30 …
Hải suy nghĩ một hồi, rồi nói:
– Vợ chồng Yang là người gốc Đài Loan, tụi
mình gốc Việt, cùng là Châu Á. Tất cả chúng ta đều ở Mỹ, họ ở Chicago,
mình ở Seattle, nên cũng khó kiếm quà. Anh nghĩ, lần đầu mới gặp nhau,
thể hiện sự biết ơn, lịch sự, tụi mình mua một loại chocolate và chai
rượu đắt tiền nào đó, được không?
– Có vẻ trịnh trọng như đi tiệc á! Dù mình chưa gặp mặt họ ngoài đời, nhưng hơn hai năm nay, qua Facetime, chúng ta đã thấy Yang và vợ rất đơn sơ, giản dị, như hai đứa em thân thiết, không cầu kỳ kiểu cách.
– Hay là mình mua trang sức cho Winnie, ví
dụ một chiếc vòng đeo tay, còn Yang là chiếc đồng hồ, họ sẽ đeo và sẽ
nhớ kỷ niệm với vợ chồng mình!?
– Em vẫn thấy không phù hợp lắm! Thôi để từ từ tụi mình sẽ suy nghĩ thêm về món quà nhe.
Đêm hôm ấy, Hải đã ngủ say nhưng Hòa vẫn
thao thức, nôn nao nghĩ đến chuyến đi gặp gỡ ân tình, với Yang, người ân
nhân đã cứu mạng Hòa, cho Hòa được sống khi căn bệnh hiểm nghèo đang ở
giai đoạn trầm trọng.
Cách đây 4 năm, vào giữa tháng Năm năm
2022, Hòa cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi, lúc nào cũng buồn ngủ, miệng bị
lở loét, chẳng muốn ăn uống gì. Tuy nhiên, Hòa không sốt, ho, không đau
cổ đau họng, và cũng không bị sụt cân bất thường. Hòa lấy hẹn bác sĩ gia
đình nhưng phải đợi hơn 2 tuần mới có hẹn. Không muốn chờ lâu, Hòa đi
vô Virginia Mason Clinic, họ thử Covid, có khám bệnh nhưng không đưa ra
kết luận nào. Qua một tuần, các triệu chứng đó biến mất, tất cả trở lại
bình thường, rồi đến ngày hẹn bác sĩ, qua một số xét nghiệm máu, Hòa
nhận kết quả bị Ung Thư Bạch Huyết Cầu (Leukemia).
Theo phác đồ điều trị của bác sĩ, Hòa sẽ
phải hóa trị, xạ trị, rồi sẽ ghép tủy khi tìm được tủy phù hợp. Hòa bắt
đầu được hóa trị từ tháng 6/2022, tóc rụng xác xơ, may mắn cơ thể Hòa
không bị phản ứng mạnh, tuy có mệt mỏi chút ít. Thời gian này Hòa là outpatient, được trở về nhà và đến bệnh viện hóa trị theo lịch hẹn.
Jang chụp với vợ sau khi lấy xong tủy năm 2022, chuẩn bị gửi qua Seattle, để cứu Hòa.
Việc hóa trị sau sáu tháng đã hoàn tất tốt
đẹp, bác sĩ bảo Hòa không cần phải xạ trị, và bắt đầu tiến hành tìm tủy
thích hợp để ghép tủy. Các anh chị ruột của Hòa đều sẵn sàng hiến tủy
để cứu em mình, dù cuộc ghép tủy có thành công hay không đều là những
thử thách gay go, Hòa vẫn vui mừng chờ đợi. Nhưng khi thử nghiệm xét tủy
có lẽ một phần do các anh chị đều lớn tuổi, nên mức độ tủy thích ứng
khá thấp, thế là giấc mộng ghép tủy của các anh chị không thành, đành
phải đợi các mẫu tủy của những người hiến tặng. Hòa thất vọng nhiều,
xong Hòa lại cầu nguyện Thiên Chúa để thêm sức mạnh thêm niềm tin và hy
vọng đợi chờ vào tấm lòng tha nhân.
Như một giấc mơ, tháng 11 cùng năm, Hòa
được bệnh viện báo tin, đã tìm được người hiến tủy, và sau đó hai tháng,
tức là tháng 1/2023 Hòa được ghép tủy tại University of Washington
Medical Hospital.
Cuộc ghép tủy thành công, nhưng ba tháng
tiếp theo sau ca ghép tủy là thời gian có lúc Hòa ngỡ như mình “chết còn
sướng hơn”. Tháng đầu tiên, các triệu chứng “side effects” ập đến trong
kinh hoàng. Hòa bị tiêu chảy trầm trọng, liên tục, kiệt sức, rã rời,
không lết nổi vào washroom, các y tá phải mang tã cho Hòa, và
để sẵn cái “bô” ngay dưới gầm giường. Còn nữa, miệng Hòa lại bị lở lói,
uống nước còn không được chớ nói gì ăn, và bác sĩ cho thông ống vào thực
quản để tiếp thức ăn vào cơ thể Hòa. Hai tháng sau, phép lạ bắt đầu
xuất hiện, dù chậm chạp, tình hình từ từ khả quan hơn, các triệu chứng
bớt dần, sức khỏe Hòa hồi phục, được trở về nhà cùng chồng con.
Khoảng gần một năm sau, bệnh viện nơi Hòa
thay tủy có cho biết thông tin của người hiến tủy. Đó là một chàng trai,
họ Yang, 29 tuổi, người Mỹ gốc Đài Loan, sinh ra lớn lên và học Đại Học
ở Michigan, yêu thích thể thao nhất là chạy marathon, hiện nay đang sống và làm việc ở Chicago. Vợ chồng Hòa nao nức mừng rỡ, liên lạc với Yang qua email. Khi đọc mail của Hòa, biết tủy của mình đã cứu sống Hòa vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, Yang đã email trả lời đầy phấn khích, thật sự chung vui với Hòa.
Kể từ đó, Hòa-Hải thường xuyên liên lạc
với Yang và Winnie là vợ mới cưới của Yang, có khi bằng tin nhắn, có khi
Facetime, đặc biệt là mỗi dịp Thanksgiving và Giáng Sinh, họ cũng luôn
đáp lại bằng những dòng nhắn thân tình. Dù luôn ước ao bay đến Chicago
để thăm vợ chồng Yang nhưng đến nay, khi sức khỏe thật sự ổn định, công
việc gia đình sắp xếp ổn thỏa, Hòa mới thực hiện được lời hứa cũng như
ước mơ ấy.
Sáng sớm hôm sau, Hòa-Hải dậy sớm, mang hành lý lên xe uber
tiến thẳng ra phi trường. Hòa luôn miệng nhắc Hải trông chừng cẩn thận
thùng cua sống, là món quà hai vợ chồng mang đến cho nhà Yang-Winnie.
Máy bay đáp xuống O’Hare International
Airport buổi trưa đầy gió và chan hòa ánh nắng (đúng là tên Thành Phố
Gió). Hòa-Hải đón xe về khách sạn, đồng thời nhắn cho Yang biết đã đến
Chicago đúng giờ, bình an. Sau khi nghỉ ngơi, tắm rửa, hai vợ chồng
xuống dưới phố quanh khách sạn để ngắm cảnh chụp hình, chờ đến giờ đến
nhà hàng ăn tối mà vợ chồng Yang đã chọn sẵn.
Vợ chồng Hòa- Hải và Yang-Winnie lần đầu gặp gỡ tại Chicago năm 2025
Hòa hồi hộp khi bước vào nhà hàng, Yang và
vợ đã ngồi nơi bàn, Hòa nhận ra họ ngay lập tức, rồi xúc động bước đến,
ôm Yang vừa đứng lên đón vợ chồng nàng. Tự nhiên nước mắt Hòa tuôn ra
không kịp ngăn lại được, Hải đứng kế bên đưa tay vuốt lưng vợ, còn Yang
dịu dàng mỉm cười vỗ về Hòa bằng tiếng Mỹ, đại khái là:
– Cám ơn anh chị đã đến, chúng ta đã được
gặp nhau bằng xương bằng thịt hôm nay, và Tạ ơn Chúa khi được nhìn thấy
chị thật khỏe mạnh.
Hòa bật khóc:
– Yang ơi, nếu không có tủy của Yang thì giờ này tôi đâu có mặt ở đây được chớ! Tôi khóc vì hạnh phúc.
Sau phút giây cảm xúc đó, bốn người ngồi
vào bàn ăn, vui vẻ hỏi han chuyện trò. Hòa nhắc Yang kể lại sự tình của
việc hiến tủy. Yang nhớ đó là lúc còn là cậu sinh viên Đại học Michigan,
rồi … ham vui theo bạn bè, ghi tên hiến máu hiến tủy khi trường Đại Học
kêu gọi, đó là năm 2011. Rồi sau đó Yang ra trường, về Chicago làm
việc, chẳng còn nhớ đến chuyện tình nguyện hiến tủy năm xưa. Cho đến một
ngày tháng 11 năm 2022, tức là hơn 10 năm sau, Yang nhận được điện
thoại của bệnh viện ở Michigan, hỏi Yang có vẫn muốn hiến tủy vì tủy của
Yang rất phù hợp với một phụ nữ bị Ung Thư Máu đang nằm trong phòng ICU
của bệnh viện Seattle. Dĩ nhiên, Yang vẫn có thể từ chối, vì chẳng có
hợp đồng ràng buộc nào cả, nhưng Yang quyết định, rủ Winnie, cùng bay về
Michigan tiến hành lấy tủy.
Yang mở phone ra, cho Hòa-Hải xem tấm hình
Yang và Winnie chụp với bịch tủy vừa mới lấy xong, mà sau đó bệnh viện
Michigan chuyển gấp về Seattle, với niềm tin, hy vọng sẽ cứu được người
phụ nữ là Hòa, đang cần.
Để rồi giờ đây, bốn người ngồi ăn tối cùng
nhau, vẫn còn ngập tràn niềm hạnh phúc, về sự diệu kỳ của cuộc đời mà
lòng nhân ái đã đem người ta đến gần nhau, như gia đình thân mến.
Xong bữa tối cũng khá trễ, Yang và Winnie
đề nghị được đưa Hòa-Hải về thăm nhà họ, rồi họ sẽ đưa Hòa-Hải về lại
khách sạn. Căn nhà nhỏ bé của đôi vợ chồng son thật xinh xắn, thú vị hơn
là họ cũng nuôi con chó, y như loại chó của Hòa-Hải ở Seattle, thế là
cuộc nói chuyện thêm rộn rã về niềm vui chăm sóc thú cưng.
Hai ngày tiếp theo ở Chicago, Hòa-Hải đi
thăm các địa điểm nổi tiếng của thành phố, Hòa thích ngắm dòng sông chạy
qua giữa lòng phố xá sầm uất, cảnh đẹp như một New York thu nhỏ.
Buổi tối trước ngày Hòa-Hải bay về
Seattle, vợ chồng Yang-Winnie đến khách sạn thăm, rồi đưa ra giỏ quà
tặng, là những trái mướp, trái bầu căng tròn, xanh mướt. Hòa thích thú:
– Ôi, hôm bữa ghé nhà, tôi có thấy vườn tược gì đâu?
Winnie tươi cười:
– Vì thùng cua của anh chị cho nhiều quá,
chúng tôi đem chia bớt cho ba má Yang sống ở phía nam thành phố Chicago,
cả nhà chúng tôi cùng ăn cua, ngon lắm chị ơi! Rồi ba má Yang góp ý nên
hái mướp hái bầu trong vườn nhà ba má để tặng lại cho anh chị. Cây nhà
lá vườn, ba má Yang mát tay lắm, năm nào cũng rau củ đầy vườn, để tặng
cho hàng xóm xung quanh.
Hòa vui vẻ:
– Winnie biết không, trái mướp này đem về
nhà, tôi sẽ nấu canh cua mướp, ngon tuyệt vời! Còn mấy trái bầu sẽ luộc
chấm thịt kho mắm kho. Những món này là đặc sản của món Việt khi nào
Yang và Winnie đến Seattle tôi sẽ đãi hai bạn, và còn rất nhiều món ngon
khác của người Việt tôi muốn hai bạn được thưởng thức.
Tiễn Yang-Winnie ra về, Hòa quay qua nói với Hải:
– Anh thấy chưa, ý kiến của em tặng cua
cho họ thật ý nghĩa, vì cua Seattle nổi tiếng, còn hơn là tặng rượu,
chocolate hoặc trang sức đắt tiền như anh đề nghị, vừa khách sáo, chưa
chắc đúng như sở thích của họ.
Hải tiếp lời vợ:
– Và họ đã đáp lại chúng ta bằng “đặc sản” vườn nhà, cũng thật là chân tình, đơn sơ, dễ thương như con người của họ.
Trên máy bay vừa cất cánh, Hòa tựa lưng
vào ghế, nhìn xuống thành phố Chicago vừa đã trở thành thân thương, hài
lòng mãn nguyện vì chuyến đi gặp gỡ ân nhân, ân tình đã diễn ra thật tốt
đẹp.
Thực ra, trước chuyến đi này, Hòa-Hải đã
có vài chuyến “road trips” ân tình khác, trong nội địa xung quanh
Seattle, hoặc gần kề tiểu bang như San Jose, Portland thăm bạn bè, gia
đình họ hàng hai bên, sau khi Hòa được thay tủy, hồi sinh, để bày tỏ sự
cám ơn chân thành đến với những người thân yêu, đã ở bên Hòa-Hải từ
những ngày đầu chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo.
Đặc biệt, còn có cả chuyến lái xe xuyên
biên giới, đến tiểu bang Alberta, Canada thăm một người chị thân quen từ
những ngày ở chung trại tỵ nạn Panatnikhom hơn 30 năm trước. Vợ chồng
chị đã từng đến Seattle gặp Hòa-Hải. Chị ấy, cũng là một trong những
người thân của nhóm “Hướng Đạo Trại Tỵ Nạn” trên Facebook theo dõi toàn
bộ quá trình Hòa được trị bệnh, thường xuyên nhắn tin, thăm hỏi và cầu
nguyện cho Hòa, nhất là những ngày sự sống mong manh khi Hòa nằm trong
phòng ICU.
Cuộc đời Hòa thật may mắn nhận được nhiều
ưu ái của Thiên Chúa, của Yang, của gia đình và bạn bè xung quanh. Hơn
ba năm qua, kể từ ngày được ghép tủy thành công, cuộc sống gia đình
Hòa-Hải đã trở lại nhịp sống bình thường. Hải vẫn làm Boeing Vendor, Hòa
vừa trở lại đi làm cho một hãng điện tử từ nửa năm nay, con trai lớn có
việc làm ở Delaware, con trai nhỏ làm chung hãng điện tử với Hòa. Mỗi
bốn tháng Hòa đều đặn đi kiểm tra sức khỏe theo yêu cầu của bác sĩ, và
lần nào cũng có kết quả chỉ số máu như người bình thường.
Hòa tự nhủ, kể từ ngày máu mới của Hòa là
máu của Yang, trở thành “chị em”, Hòa sẽ sống từng phút giây với tấm
lòng cảm tạ tri ân, hạnh phúc với từng điều nhỏ nhặt nhưng vô cùng quý
giá của cuộc sống mỗi ngày. Cảm xúc này, tâm tình này, chỉ có những ai
đã từng ở bên bờ sinh tử, hôn mê dài ngày trong phòng ICU… mới thấu hiểu
rõ nhất.
Hòa nhắm mắt mơ màng, vì không còn thân
nhân nào bên Việt Nam nên vợ chồng Hòa không nghĩ đến chuyện về quê
hương. Đi du lịch đó đây trên thế giới là dự định tương lai, nhưng trước
mắt trong tầm tay, Hòa muốn tận hưởng và tạ ơn cuộc đời, tạ ơn quê
hương thứ hai, Mỹ Quốc, bằng những chuyến đi, dù là road trips
hay đi máy bay, thăm hết nước Mỹ. Năm mươi tiểu bang, biết bao nhiêu
thành phố, làng mạc, cảnh quan hùng vĩ, đến bao giờ mới đi hết. Và có
một nơi mà Hòa vẫn nói với chồng, muốn đi thăm mỗi năm, đó là Chicago ân
tình.
Hòa nhìn qua khung cửa máy bay, Chicago dần dần nhỏ lại phía dưới, tạm biệt Thành Phố Gió, và hẹn tái ngộ lần sau.
Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến
1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa
của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ.
Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và
đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa
đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.
1. Đại học ghi danh – Biểu tượng của giáo dục đại chúng:
Đây là hình thức mà người học chỉ cần có
bằng Tú tài II là được ghi danh vào học, không phải qua kỳ thi tuyển
sinh riêng. Các phân khoa điển hình là Văn khoa, Luật khoa, Khoa học
thuộc Viện Đại học Sài Gòn.
Ưu điểm:
Thứ nhất, nó thể hiện triệt để triết lý
giáo dục nhân bản, dân tộc, khai phóng. Mọi thanh niên có khả năng,
không phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, đều có cơ hội bước vào
đại học. Học phí ở các trường công lập hoàn toàn miễn phí, xóa bỏ rào
cản tài chính. Đây là bước tiến rất lớn so với mô hình Pháp trước đó chỉ
đào tạo một số ít tinh hoa.
Thứ hai, nó đáp ứng được nhu cầu bùng nổ
về nhân lực có trình độ sau 1954, khi gần một triệu đồng bào di cư vào
Nam và nhu cầu xây dựng quốc gia tăng cao. Chỉ trong 20 năm, tổng số
sinh viên đã tăng từ vài nghìn lên khoảng 150.000 người vào năm 1975.
Thứ ba, mô hình ghi danh tạo ra một môi
trường học thuật tự do, tự trị. Sinh viên được tự chọn chứng chỉ, tự
chọn giáo sư, học theo tín chỉ. Người không thích ngành này có thể ghi
danh thêm ngành khác. Điều này nuôi dưỡng tinh thần tự học, tự nghiên
cứu, rất khác với việc học theo lớp niên chế gò bó.
Khuyết điểm:
Khuyết điểm lớn nhất là sự quá tải và
thiếu kiểm soát chất lượng đầu ra. Lấy ví dụ Đại học Văn khoa Sài Gòn
giai đoạn 1959-1963, lớp Dự bị có lúc sinh viên phải ngồi cả dưới đất,
phải ném tập sách vào giữ chỗ. Giảng đường vài trăm chỗ mà có khi hơn
nghìn sinh viên.
Vì đầu vào mở hoàn toàn, nhưng đầu ra lại
thi rất khó theo chế độ chứng chỉ, nên tỷ lệ rớt, bỏ học rất cao. Nhiều
người ghi danh 4-5 năm vẫn chưa lấy đủ chứng chỉ để ra trường. Điều này
dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội, sinh viên kéo dài thời gian học, vừa
học vừa làm, chất lượng đào tạo không đồng đều.
Ngoài ra, việc miễn phí hoàn toàn và không
giới hạn chỉ tiêu khiến ngân sách giáo dục luôn eo hẹp. Trong khi ngân
sách quốc gia phải dành hơn 40% cho quốc phòng, chỉ khoảng 7% cho giáo
dục, việc duy trì các đại học ghi danh khổng lồ là một gánh nặng.
2. Đại học thi tuyển – Biểu tượng của giáo dục tinh hoa:
Ngược lại, các trường thi tuyển như Y
khoa, Dược khoa, Nha khoa, Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú
Thọ thì áp dụng chế độ thi tuyển vô cùng khắc nghiệt.
Ưu điểm:
Ưu điểm rõ nhất là chất lượng. Vì chỉ tiêu
có hạn, tỷ lệ chọi có thể lên tới 1/10 hoặc 1/20, nên những người trúng
tuyển thực sự là những người xuất sắc nhất. Chương trình học được thiết
kế chặt chẽ, kỷ luật, học theo lớp, thực hành nghiêm ngặt. Nhờ vậy, bác
sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư tốt nghiệp từ các trường này có trình độ
được quốc tế công nhận, nhiều người sau 1975 ra nước ngoài hành nghề
được ngay.
Thứ hai, nó đảm bảo hiệu quả đầu tư công.
Vì đào tạo các ngành này tốn kém, đòi hỏi phòng thí nghiệm, bệnh viện
thực tập, nên nhà nước không thể đào tạo đại trà. Việc thi tuyển giúp
chọn đúng người, dùng đúng chỗ. Đặc biệt, sinh viên Sư phạm và Quốc gia
Hành chánh còn được cấp học bổng hàng tháng, được xem là công chức tập
sự, tạo động lực rất lớn và gắn trách nhiệm phục vụ sau khi ra trường.
Thứ ba, tính công bằng tuyệt đối trong thi
tuyển. Việc tuyển chọn chỉ dựa trên điểm thi, không xét lý lịch gia
đình. Con của một gia đình nghèo hoàn toàn có thể đậu Y khoa nếu học
giỏi, và sau khi ra trường có địa vị xã hội vững chắc. Đây là con đường
thăng tiến xã hội quan trọng.
Khuyết điểm:
Hạn chế lớn nhất là tính đào thải quá sớm
và áp lực tâm lý khủng khiếp. Hệ thống giáo dục miền Nam vốn đã có 4 kỳ
thi loại trừ liên tiếp: Tiểu học, Trung học đệ nhất cấp, Tú tài I, Tú
tài II với tỷ lệ đậu Tú tài I chỉ 15-30% và Tú tài II chỉ 30-45%. Sau
khi vượt qua tất cả để có Tú tài II, học sinh giỏi lại phải đối mặt với
một kỳ thi tuyển còn khó hơn nữa vào Y, Dược.
Điều này tạo ra một xã hội trọng thi cử,
học sinh phải học luyện thi vất vả. Những người không đậu vào trường thi
tuyển buộc phải dạt sang hệ ghi danh, đôi khi không đúng với nguyện
vọng, gây chán nản.
Mặt khác, vì chỉ tiêu quá ít, miền Nam
trước 1975 luôn thiếu trầm trọng bác sĩ, kỹ sư. Đến năm 1974, cả miền
Nam chỉ có khoảng hơn 100.000 sinh viên đại học cho 20 triệu dân, trong
đó số sinh viên ngành kỹ thuật chỉ chiếm 0,5%. Nhu cầu phát triển công
nghiệp và y tế không được đáp ứng đủ.
3. Nhận định chung:
Hai mô hình này thực chất là bổ sung cho
nhau. Đại học ghi danh lo phần phổ cập tri thức, tạo ra một tầng lớp
trung lưu có học thức, biết luật, biết văn chương, khoa học cơ bản. Đại
học thi tuyển lo phần đào tạo cán bộ chuyên môn cao cấp, nòng cốt cho bộ
máy nhà nước và xã hội.
Cái hay của miền Nam trước 1975 là đã
không chọn một cực đoan. Nếu chỉ có thi tuyển, giáo dục sẽ thành đặc
quyền của thiểu số. Nếu chỉ có ghi danh, sẽ thiếu đi những chuyên gia
đầu ngành. Sự kết hợp này, dù còn nhiều bất cập do chiến tranh và thiếu
thốn, vẫn là một thử nghiệm đáng tham khảo về việc làm sao vừa mở rộng
cơ hội học tập, vừa giữ được chất lượng đỉnh cao.
Tiểu
thuyết trào phúng " TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM " . Tác phẩm xuất bản ở
Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là
George Orwell . ANIMAL FARM - Trại Súc Vật như một sự tiên đoán của tác
giả về tương lai của mô hình nhà nước theo tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ
đi đến bế tắc , phải tự chuyển hóa để tiến hoá .
ANIMAL FARM - TRẠI SÚC VẬT . Tiểu
thuyết trào phúng TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM . Tác phẩm xuất bản ở Anh
ngày 17 tháng 8 năm 1945 của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là George
Orwell . ANIMAL FARM - Trại Súc Vật như một sự tiên đoán của tác giả về
tương lai của mô hình nhà nước theo tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ đi đến
bế tắc , phải tự chuyển hóa để tiến hoá . Tóm tắt tác phẩm Trại Súc Vật :
Thủ lĩnh (Old Major), chú lợn đực già tại Trại Manor (hay "Willingdon
Đẹp đẽ" như nó tự gọi mỗi khi xuất hiện) kêu gọi các loài vật khác trong
Trại tới một cuộc họp, tại đó nó so sánh con người với những kẻ ăn bám
và dạy các con vật một bài hát cách mạng, "Beasts of England" (Những súc
vật của nước Anh). Khi Thủ lĩnh chết ba ngày sau đó, hai con lợn
trẻ, Snowball và Napoleon, nắm quyền chỉ huy và biến giấc mơ của Thủ
lĩnh thành một triết lý đầy đủ. Các con vật nổi dậy và đuổi Ông Jones khỏi trang trại, đổi tên từ "Trại Manor" thành "Trại súc vật." Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật được viết trên tường của một nhà kho để tất cả mọi con vật có thể đọc được. Điều thứ 7 là quan trọng nhất, "Mọi con vật đều bình đẳng." Tất
cả các con vật đều phải làm việc, nhưng chú ngựa thồ, Boxer, làm việc
nhiều hơn những con khác và nhận câu châm ngôn — "Tôi sẽ làm việc nhiều
hơn nữa." Chú lợn Snowball tìm cách dạy các con thú khác đọc và viết
(dù ít con muốn học đọc và viết cẩn thận, và điều này đã góp phần vào
việc những con lợn trở thành kẻ cầm quyền); thức ăn thừa mứa; và trang
trại hoạt động êm thấm. Những con lợn tự nâng cấp chúng lên các vị
trí lãnh đạo, thể hiện sự ưu tú của mình bằng các đặt bên cạnh các loại
thức ăn đặc biệt phục vụ cho sức khoẻ cá nhân của chúng. Trong lúc đó, Napoleon bí mật lấy những chú chó con từ các con chó trong trang trại và tự mình huấn luyện chúng. Khi Ông Jones tìm cách lấy lại trang trại, các con vật đánh bại ông trong cái chúng gọi là "Trận Cowshed." Napoleon và Snowball bắt đầu một cuộc cạnh tranh quyền lãnh đạo. Khi Snowball tuyên bố ý tưởng về một cối xay gió, Napoleon nhanh chóng phản đối nó. Snowball
thực hiện một bài phát biểu nồng nhiệt để ủng hộ cối xay gió, trong khi
đó Napoleon triệu tập chín con chó của mình, và chúng đã đuổi Snowball
đi. Với sự vắng mặt của Snowball, Napoleon tuyên bố mình là lãnh đạo và thực hiện những thay đổi.
Những cuộc hội họp sẽ không còn được tổ chức nữa và thay vào đó là một
uỷ ban của những con lợn sẽ quyết định điều gì sẽ xảy ra với trang trại;
vì thế tạo ra một thứ giống với một xã hội chuyên chế độc tài Napoleon,
dùng một chú lợn trẻ tên là Squealer làm người phát ngôn của mình,
thông báo rằng Snowball đã ăn cắp ý tưởng về cối xay gió của Napoleon. Nhân vật Squealer trong trường hợp này có thể coi là một sự ám chỉ tới một nhân vật thêu dệt (spin doctor) chính trị. Các con vật làm việc nhiều hơn với lời hứa hẹn về một cuộc sống dễ dàng hơn với chiếc cối xay gió. Sau một cơn bão mạnh, các con vật thấy thành quả lao động của chúng đã biến mất.
Napoleon và Squealer sau đó tìm cách thuyết phục các con vật rằng
Snowball là người đã phá huỷ cối xay gió, dù theo những lời bàn luận
miệt thị từ các trang trại xung quanh thực tế cối xay gió bị phá huỷ bởi
những bức tường được xây quá mỏng. Khi Snowball trở thành kẻ giơ
đầu chịu báng, Napoleon bắt đầu thanh trừng trang trại, giết nhiều con
vật mà nó buộc tội là đi lại với Snowball. Trong lúc ấy, Boxer được dạy châm ngôn thứ hai: "Napoleon luôn luôn đúng."
Napoleon ngày càng lạm dụng quyền lực, vì thế cuộc sống trở nên khó
khăn hơn cho các con vật; những con lợn áp đặt thêm nhiều biện pháp kiểm
soát trong khi vẫn giữ các ưu tiên cho chúng. Những con lợn viết
lại lịch sử để kể tội Snowball và vinh danh Napoleon, ví dụ bằng cách
nói rằng Snowball đã chiến đấu cho loài người trong Trận Cowshed, và
rằng Napoleon đã đánh Snowball, trong khi trên thực tế Snowball bị trúng
một viên đạn từ khẩu súng của Jones. Squealer sửa chữa mọi tuyên bố do Napoleon đưa ra, thậm chí cả sự thay đổi Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật của những con lợn. "Không con thú nào được uống rượu" nhanh chóng được đổi thành "Không con thú nào được uống rượu quá mức" Khi những con lợn phát hiện ra nơi cất giấu rượu whiskey.
Bài hát "Beasts of England" cũng bị cấm vì lý do nó không thích hợp,
bởi theo Napoleon giấc mơ của Trại súc vật đã trở thành hiện thực. Nó được thay thế bằng một bài hát ca ngợi Napoleon, và nó có vẻ đã chấp nhận cách sống của một con người.
Các con vật, dù lạnh, đói khát và phải làm việc quá sức, vẫn tin tưởng
theo tuyên truyền tâm lý rằng chúng vẫn đang sống tốt đẹp hơn so với
cuộc sống trước kia với Ông Jones, người chủ Trang trại Manor. Squealer lợi dụng trí nhớ kém của các con vật và sáng tác ra các con số để thể hiện sự cải thiện của chúng.
Mr. Frederick, một trong hai trại chủ láng giềng, đã lừa Napoleon bằng
cách mua gỗ xẻ bằng tiền giả, và sau đó tấn công trang trại, dùng thuốc
nổ để phá huỷ chiếc cối xay gió mới được làm lại. Dù những con vật
của Trại súc vật cuối cùng đã giành chiến thắng, chúng phải trả một giá
đắt, bởi nhiều con thú, kể cả Boxer, đã bị thương. Squealer biến mất một cách bí ẩn khỏi trận đánh. Boxer tiếp tục làm việc nhiều và nhiều hơn, cho tới khi cuối cùng nó lăn ra khi đang làm việc ở cối xay gió. Napoleon
điều một chiếc xe bán tải tới chở Boxer tới bác sĩ thú y, giải thích
cho những con vật đang lo lắng rằng Boxer sẽ được chăm sóc tốt ở đó.
Tuy nhiên, Benjamin đã nhận ra khi Boxer được tống lên xe rằng thực tế
chiếc xe thuộc về "Alfred Simmonds, Kẻ giết Ngựa và Nấu Hồ", và cố gắng
lên tiếng phản đối, nhưng những nỗ lực tuyệt vọng của các con thú không
mang lại kết quả. Squealer nhanh chóng thông báo rằng chiếc xe đã được bệnh viện mua lại và giấy của người sở hữu trước vẫn chưa được viết lại.
Nó kể lại một câu truyện cổ tích kịch tính và đầy nước mắt về cái chết
của Boxer trong tay những bác sĩ giỏi nhất. Trên thực tế, những con lợn
đã gửi Boxer tới chỗ chết để đổi lấy tiền mua thêm whiskey. Và vì thế lũ lợn lại tiếp tục say mèm. Nhiều năm trôi qua, và những con lợn học đi thẳng, mang theo roi da, và mặc quần áo. Bảy
điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: "Tất cả các loài vật đều
bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác."
Napoleon tổ chức một bữa tiệc cho những con lợn và người ở trong vùng
(trong Trại Foxwood bên cạnh, của Ông Pilkington), người đã chúc mừng
Napoleon vì có những con vật làm việc nhiều nhất nước với lương thực ít
nhất. Napoleon thông báo liên minh của mình với loài người, chống lại các tầng lớp lao động của cả hai "thế giới".
Sau đó nó xoá bỏ các hành động và truyền thống liên quan tới Cách mạng,
và đổi lại tên trang trại trở về ban đầu là "Trại Manor". Các con vật, nghe được về việc đó, nhận ra khuôn mặt của những con lợn cầm quyền đã bắt đầu thay đổi.
Trong một ván poker, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa Napoleon và Ông
Pilkington khi cả hai đều chơi quân bài Át Bích, và các con vật nhận ra
rằng những bộ mặt của những con lợn khi đó hầu như đã giống với mặt
người và rằng không ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng. Chủ
nghĩa động vật là một hình ảnh phản chiếu có tính chất ngụ ý về các nhà
nước mới trong lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập, cũng như
diễn tiến quan niệm của cách mạng và chính phủ mới về việc làm thế nào
để thực hiện nó. Chủ nghĩa này do chú lợn Old Major rất được tôn trọng
đề ra. Những chú lợn Snowball, Napoleon, và Squealer đã đưa các tư
tưởng của Old Major vào trong một triết lý thực tế, mà chúng đặt tên
chính thức là Chủ nghĩa động vật. Ngay sau đó Napoleon và Squealer
bắt đầu tự cho phép thực hiện các trò truỵ lạc của loài người (uống
rượu, ngủ trên giường và mua bán). Squealer được sử dụng để sửa đổi
Bảy điều răn để thích hợp với sự người hoá của nó, cái thể hiện sự bóp
méo lý thuyết nhân đạo ban đầu của chính phủ mới để nó lập lại một xã
hội chuyên chế độc tài thời Jones, một sự phát triển "lùi" chứ không
phải là một sự thay thế cấp tiến. Bảy điều răn là một danh sách các
quy định hay luật được cho là để giữ trật tự và đảm bảo tính căn bản của
Chủ nghĩa động vật bên trong Trại súc vật. Bảy điều răn được đưa ra
để thống nhất mọi loài vật với nhau trong một lý tưởng chung chống lại
con người và ngăn chặn các loài vật không đi theo những thói quen ma quỷ
của con người. Bởi không phải tất cả loài vật đều có thể nhớ được
Bảy điều răn, chúng được rút gọn lại thành một câu căn bản: "Bốn chân
tốt! Hai chân xấu!" (với cánh cũng được tính là chân cho mục đích
này, Snowball cho rằng cánh được tính như chân bởi chúng là các vật thể
để vận động chứ không phải để thao tác), câu nói được những con cừu
thường xuyên nhắc lại, khiến đám đông những con vật quên đi những lời
nói dối của những con lợn. Bảy điều răn nguyên bản là: 1.Bất kỳ cái gì đi bằng hai chân đều là kẻ thù 2.Bất kỳ cái gì đi bằng bốn chân, hay có cánh, đều là bạn bè. 3.Không con vật nào được mặc quần áo. 4.Không con vật nào được ngủ trên giường. 5.Không con vật nào được uống rượu. 6.Không con vật nào được giết bất kỳ con vật nào khác. 7.Tất cả các loài vật là bình đẳng. Sau này, Napoleon và những con lợn của nó tham nhũng bằng quyền lực tuyệt đối chúng có được với trang trại.
Để duy trì sự đồng đẳng với các loài vật khác, Squealer bí mật viết
thêm vào các điều răn để làm lợi cho các con lợn trong khi vẫn giữ bí
mật để chúng không bị buộc tội phá vỡ các điều luật (như "Không con vật
nào được uống rượu" được thêm "quá mức" và "Không con vật nào được ngủ
trên giường" được thêm "trải ga"). Các điều răn cuối cùng bị bỏ đi
hoàn toàn, và được thay thế bằng câu "Mọi con vật đều bình đẳng, nhưng
một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác", và "Bốn chân tốt, hai
chân tốt hơn!" khi loài lợn ngày càng giống con người. Về sau chế độ của Napoleon tự sụp đổ và tự chuyển hóa để trở thành con người .
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ - QUÂN LỰC VNCH : TRẬN GIẢI TỎA CĂN CỨ ĐỨC HUỆ - TỈNH HẬU NGHĨA - QUÂN ĐOÀN III VNCH 1974 .
[LIÊN ĐOÀN HẬU DUỆ VNCH : CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ - QLVNCH ] :
NGƯỜI CHIẾN SĨ THIẾT GIÁP KỴ BINH VÀ BIỆT ĐỘNG QUÂN TRONG HAI NĂM CUỐI
CỦA CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1974-1975) : Trận đánh tróc gốc Sư Đoàn 5
CS - trận đánh này được gọi là trận Đức Huệ, mặc dù cả hai giai đoạn
giao tranh và chiến thắng đều không thực sự diễn ra tại Đức Huệ . Trận
đánh chính diễn ra trên đất KamPuChia - tỉnh SvayRiêng . Đây là cuộc
Hành quân vượt biên giới Cao Miên lần thứ 2 của QLVNCH do các đơn vị
thuộc Quân Đoàn III VNCH thiết kế và hành động . Đồn Đức Huệ nằm về phía
Tây Bắc cách Sài Gòn 56 cây số, do Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân phòng
thủ với quân số trên dưới 420 người . Quận Đức Huệ thuộc tỉnh Hậu Nghĩa ,
nay nhập vào tỉnh Long An vùng Mỏ Vẹt. Đồn chỉ cách biên giới Miên -
SvayRiêng có 6 Km, khoảng cách lý tưởng để thực hiện pháo kích tấn công
của những tiểu đoàn pháo binh CS đặt cách biên giới 5, 7 cây số ...
(Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh )
1. Tình hình chung ở Vùng 3 Chiến Thuật
Sau khi ký kết Hiệp Định Paris, đầu năm 1973, Quân đội Mỹ ở Miền Nam
Việt Nam (MNVN) bắt đầu rút quân về nước. Các đơn vị chủ lực của CS ở
Vùng 3 Chiến Thuật gồm có 3 Sư Đoàn Bộ binh: 5, 7, 9 và các đơn vị đặc
công ém quân bên kia biên giới Việt Miên thường xuyên xâm nhập vào lãnh
thổ VNCH quấy nhiễu hoặc bao vây tấn công các đồn biên phòng của chúng
ta dọc theo biên giới ở các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước
Long. Chủ lực của Quân Đoàn III gồm có 3 Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 và
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh được sự yểm trợ trực tiếp của Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh
155 ly, Tiểu Đoàn 61 PB 105 ly và Liên Đoàn 30 Công Binh dưới quyền chỉ
huy của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, một mặt phải lo dàn mỏng quân ra
thay thế Lực lượng II Dã chiến Hoa Kỳ để bảo vệ lãnh thổ chống lại chủ
trương "dành dân lấn đất" của Cộng sản sau khi Hiệp Định Paris ra đời;
mặt khác, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn III phạm sai
lầm rất lớn về tổ chức và sử dụng lực lượng là giải tán Lực Lượng Xung
Kích Quân Đoàn III và phân tán nát Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ra từng mảnh nhỏ
sau khi tôi rời Lữ Đoàn đi du học ở Hoa Kỳ năm 1972. Hai sự kiện đó làm
cho Quân Đoàn III bị suy yếu trầm trọng và hoàn toàn bị mất đi tính di
động. Vì thế mà Lộc Ninh bị địch chiếm và các đồn biên phòng ở Tây Ninh
lần lượt bị lọt vào tay địch. Tháng 7 năm 1973 tôi từ Mỹ trở về nước.
Trung Tướng Phạm Quốc Thuần cũng vừa thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn
Minh đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn III. Ông nghe tiếng tôi đã từng
chỉ huy Chiến Đoàn 318 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đánh thắng nhiều trận lớn
trên chiến trường Campuchia từ thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí trong 2 năm
1970-1971, nên vận động xin tôi về trở lại Quân Đoàn III với ông. Ngày 7
tháng 11 năm 1973, tôi nhận quyền chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ở Biên Hòa.
Việc đầu tiên là tôi gom các đơn vị Thiết Giáp bị phân tán về lại
Lữ Đoàn và trình Trung Tướng Thuần gấp rút tổ chức lại Lực Lượng Xung
Kích Quân Đoàn III (LLXKQĐIII) theo mô hình tổ chức của Đại Tướng Đỗ Cao
Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động. Tình hình quân sự ngày càng
nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong "Mùa Hè Đỏ Lửa" 1972, nhiều chiến xa
T-54 địch xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc,
nên tôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa địch có thể xuất hiện
ở Biên Hòa; tôi xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương
Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn
luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với
Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch
chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều
được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch.
Tôi ra sức cải tổ lại Lữ Đoàn 3 KB cho phù hợp với địa thế Việt Nam.
Mỗi chi đội chiến xa có 3 chiến xa M48 thay vì 5 chiếc. Tôi cơ động hóa
Pháo Binh bằng cách dùng xe xích M548 biến cải chở pháo 105 ly. Tôi tổ
chức LLXKQĐIII thành một đại đơn vị liên binh Thiết Giáp - Biệt Động
Quân - Pháo Binh - Công Binh hoàn toàn cơ động gồm 3 Chiến Đoàn : 315,
318 và 322. Tôi gấp rút huấn luyện tác chiến liên binh thuần thục và
thường xuyên làm công tác tư tưởng để mọi quân nhân hiểu rõ địch, hiểu
rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến đấu của chúng ta, nhất là để mọi chiến sĩ
dưới quyền có niềm tin ở sự chỉ huy của tôi. Đến hạ tuần tháng ba, 1974,
LLXKQĐIII đã trở thành một đại đơn vị cơ động tinh nhuệ sẵn sàng lên
đường chiến đấu. 2.Tình hình đặc biệt : Cuộc chiến đấu can đảm
của Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân Căn Cứ Đức Huệ nằm khoảng 56 Km hướng
Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt Miên thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu
Nghĩa do Tiểu Đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ với quân số trên dưới 420
người cùng với gia đình vợ con binh sĩ vào khoảng 80 người sống trong
căn cứ nguyên là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ để lại . Tiểu
Đoàn trưởng là Thiếu Tá Hoa Văn Hạnh. Khi xảy ra trận chiến thì Thiếu Tá
Hạnh đi nghỉ phép vắng mặt. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo, Tiểu Đoàn phó thay
thế chỉ huy. Tiểu Đoàn 83 BĐQ có 4 Đại Đội tác chiến và 1 Đại Đội Chỉ huy và Công vụ: - Trung Úy Thạch Thông chỉ huy Đại Đội 1, - Trung Úy Hiền chỉ huy Đại Đội 2, - Trung Úy Thất chỉ huy Đại Đội 3, - Trung Úy Tuội chỉ huy Đại Đội 4 - Thiếu Úy Vạng chỉ huy Đại Đội Chỉ huy và Công vụ.
Được tin tình báo CS sẽ đến đánh căn cứ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo cho 3
Đại Đội tác chiến ra ngoài căn cứ: 1 Đại Đội bố trí các tiền đồn an ninh
xa và 2 Đại Đội hành quân tìm và diệt địch ngoài xa căn cứ. Còn lại một
Đại Đội tác chiến trừ bị bố phòng trong căn cứ. 1) Đêm 27- 3
-1974, một đaị đội Đặc công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức
Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, chúng chiếm được một góc
trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị
thương ở chân, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về.
Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5
CS (Công Trường 5) bao vây chặt; pháo binh địch tập trung hỏa lực pháo
kích vào căn cứ rất dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc công
CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu
đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.
Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng
thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa
lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố
phòng bên trong chặn đứng các đợt xung phong bên ngoài của các đơn vị bộ
bnh Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ.
Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho
Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ
Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa
thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông
Vàm Cỏ. (2) Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III liền điều động Bộ Chỉ huy Liên
Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với
Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974,
Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ
huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83
BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy
đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song
song về hướng Căn Cứ Đức Huệ ở cách đó chừng 10 cây số đường chim bay về
hướng Tây. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh
thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công
mạnh, đồng thời pháo binh địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào đội hình
của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-)
và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông
Vàm Cỏ . (3) Sư Đoàn 25 BB hành quân giải tỏa. Tiếp theo, Bộ Tư
lệnh QĐIII giao nhiệm vụ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ
huy, tổ chức hành quân giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Đại Tá Toán liền điều
động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên
giới từ phía Bắc đến giải tỏa . Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại
làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng
2 Km về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13
Km về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí
trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường
Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn
Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của
Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám
sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi. Để đối phó với
đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa
thế, bố trí quân kín đáo chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt
chặn trên trục tiến quân của ta không vượt qua được, đồng thời Pháo Binh
tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính
xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB,
làm tê liệt các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa
của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch
bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó
quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng
hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn
trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một
tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày
vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt
ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ
DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương
thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt
vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của
BĐQ qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB xuống đều bị thất bại trong
việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ . (4) Những "Anh hùng Alamo Việt Nam".
Bên trong căn cứ, trong lúc đó, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại
Đội 3 của Trung Úy Anh thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ dưới quyền chỉ huy của
Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo chiến đấu vô cùng dũng mãnh, càng đánh càng hăng
từ lúc đầu cận chiến với đặc công địch bằng lưỡi lê và lựu đạn bên
trong căn cứ cho đến về sau này phải chiến đấu đẩy lui các đợt xung
phong của địch ngày đêm không ngừng nghỉ. Cuối cùng lương thực và đạn
dược bắt đầu cạn, căn cứ bị cô lập không được tiếp tế, không tản thương
được, nhưng không vì thế mà tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ BĐQ bị
suy giảm. Họ thề quyết tử chiến với quân thù. Gia đình vợ con của các
chiến sĩ BĐQ trong căn cứ cũng tích cực tham gia chiến đấu bên cạnh
chồng cha họ. Họ cổ võ, họ giúp tản thương, cứu thương, tiếp tế đạn dược
và lo cơm nước. Có người còn cầm súng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Mặc
dù tỷ lệ quân số giữa ta và địch quá chênh lệch, quân địch không sao dứt
điểm được. Xác địch chồng chất ngổn ngang bên trong và bên ngoài Căn Cứ
Đức Huệ. So sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân đội Mỹ ở đồn binh
"Alamo" năm 1836 do Trung Tá William Barret Travis chỉ huy với quân số
189 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 2,000 quân Mễ với tỷ
lệ quân số hai bên là 1/11. Sau 13 ngày đêm tử chiến, đồn binh bị quân
địch tràn ngập ngày 6-3-1836. Tất cả 189 chiến sĩ trong đồn binh đều tử
trận, chỉ còn sống sót 14 người là đàn bà và trẻ con. Khoảng 1,600 quân
Mễ bị giết. Tiểu Đoàn 83 BĐQ phòng thủ trong Căn Cứ Đức Huệ với quân số
khoảng 420 người được tăng cường 50 người của Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn
64 BĐQ. Tổng cộng quân số là 470 người chống lại sự bao vây và tấn công
của hơn 6,500 quân của Sư Đoàn 5 CS với tỷ lệ quân số đôi bên là 1/13.
Sau hơn 1 tháng chiến đấu quyết liệt từ ngày 27-3-1974 đến ngày
28-4-1974, giữ vững vị trí phòng thủ, giết hơn 200 quân địch và gây
thương tích cho khoảng 500 tên khác. Tổn thất bên BĐQ là 24 chết và hơn
100 người bị thương. Mặc dù thời đại có khác nhau, mẫu số chung của
những anh hùng ở Alamo, Camerone và Đức Huệ là sự quyết tâm tử thủ bằng
mọi giá. Với tỷ lệ quân số đôi bên chênh lệch như thế, họ vẫn hiên
ngang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có thể
nói không quá đáng là những chiến sĩ Biệt Động Quân chiến đấu ở Căn Cứ
Đức Huệ đích thật là những "Anh hùng Alamo Việt Nam". 3. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh - Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III Xuất Trận - Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi :
Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là việc tản thương, cứu thương và
tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ trong lúc mọi
đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt
đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt. Tình hình bên trong
căn cứ rất căng thẳng. (1) Ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc
Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi tôi. Lúc bấy giờ tôi đang chỉ huy
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát "Khu Tam Giác Sắt" và "Vùng Hố Bò",
sau khi Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Dư Ngọc Thanh đập tan Tiểu Đoàn Tây
Sơn thuộc Trung đoàn 101 Địa phương CS giải tỏa áp lực địch chung quanh
đồn Bò Cạp và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh.
Tôi lên trực thăng chỉ huy bay về Biên Hòa trình diện Trung Tướng Tư
lệnh Quân Đoàn. Ông tiếp tôi và cho tôi biết qua tình hình địch và bạn
và tình trạng hiện nay bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Sau đó Trung Tướng ra
lệnh cho tôi lấy trực thăng bay qua Đức Hòa xem xét tình hình chiến sự
bên đó rồi về trình cho ông biết ý kiến. Tôi liền lên trực thăng
bay qua Đức Hòa. Trên đường bay, tôi mải mê lo nghĩ phải làm gì để đối
phó với Sư Đoàn 5 CS đây? Linh tính cho tôi biết có thể tôi sẽ được Bộ
Tư lệnh Quân Đoàn chỉ định giải quyết tình trạng nguy kịch ở Căn Cứ Đức
Huệ. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn. Cách đánh của quân địch từ trước
tới nay vẫn là "Công Đồn Đả Viện". Địch chủ động tổ chức chiến trường
nhiều ngày chờ ta đến. Pháo binh tầm xa của chúng bố trí an toàn bên kia
biên giới và sẵn sàng mở những trận địa pháo chính xác và ác liệt khó
lọt qua được. Địch lại nắm ưu thế về quân số và địa thế. Ta có lực lượng
Thiết Giáp hùng hậu, ta làm chủ không phận và có không lực yểm trợ mạnh
mẽ. Nhưng gần đây, quân địch được trang bị nhiều vũ khí tối tân của
Liên Sô như hỏa tiễn phòng không tầm nhiệt SA7 đã gây cho Không Lực ta
nhiều tổn thất đáng kể, và hỏa tiễn chống chiến xa AT3, một loại hỏa
tiễn lợi hại có bộ phận điều khiển giống hỏa tiễn TOW chống xe tăng của
Mỹ. Tôi đã từng gặp hỏa tiễn AT3 này một lần trên chiến trường
Campuchia. Mải mê suy nghĩ, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa lúc nào
không biết khi một loạt đạn pháo kích của địch nổ chát chúa chung quanh
trực thăng làm tôi giật mình bừng tỉnh. Tôi cầm bản đồ phóng nhanh
xuống đất và ra dấu cho trực thăng bay đi. Tôi vội lên xe Jeep đang chờ
và cho tài xế chạy nhanh đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy
Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Tôi leo lên tầng cao nhất của nhà máy. Ở
đây nhìn ra ngoài, ta thấy con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới. Bên
kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên.
Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, tiếp tôi và
thuyết trình cho tôi rõ tình hình của cánh quân BĐQ ở phía Đông Căn Cứ
Đức Huệ. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông thất bại, Tiểu Đoàn 36 BĐQ và
Tiểu Đoàn 64 BĐQ đang tổ chức lại hàng ngũ, bổ sung quân số và chờ lệnh
mới của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn . Rời Bộ Chỉ huy của Liên Đoàn 33 BĐQ,
tôi lên trực thăng bay về hướng biên giới. Tôi cho trực thăng bay thật
cao để có cái nhìn tổng quát bên dưới và cũng để đề phòng phòng không
của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến
vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng
sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở
Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa
tít về hướng Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc. Tôi cho trực thăng
bay sâu vào đất Miên. Thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía
trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng chừng 10 mẫu Tây gây sự chú
ý của tôi. Tôi chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân "Toàn
Thắng 42" cuối tháng 4-1970, tôi có đi qua khu rừng này và tôi có biết
rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu. Trong chớp mắt, tôi
thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu
Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ. Quả thật giản dị đúng như Napoléon
nói: "La guerre est un art simple et tout d'exécution" (Chiến tranh là
một nghệ thuật giản dị và tất cả là cách thực hiện trên chiến trường).
Trong đầu tôi hiện ra cách thực hiện một kế hoạch hành quân giản dị
trong đó hành động táo bạo, nhanh chóng và hoàn toàn bất ngờ là chìa
khóa của thắng lợi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm. Trở về hậu cứ của
Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi liền tự tay phác họa ra kế hoạch phản công trong
vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ
hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên đêm và bí mật tiến
sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm
vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức giữ bí
mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp,
khai thác tối đa tốc độ và "Shock Action" trên trận địa, không cho địch
trở tay kịp . Tôi cầm kế hoạch trong tay đi lên Bộ Tư lệnh Quân Đoàn gặp
Trung Tướng Phạm Quốc Thuần. Ông tiếp tôi và tôi xin được trình bày.
Tôi trải tấm bản đồ 1/50,000 ra bàn. Ông chăm chú lắng nghe tôi nói:
"Sáng nay, theo lệnh Trung Tướng, tôi đã bay đi thám sát mặt trận ở Đức
Hòa Đức Huệ. Tình hình rất xấu, chúng ta phải hành động ngay, sợ không
kịp vì Căn Cứ Đức Huệ bị vây hãm từ 27-3 đến nay hơn 20 ngày. Tiếp tế và
tản thương cho Căn Cứ Đức Huệ bị địch cắt đứt hoàn toàn. Tôi xin đề
nghị lên Trung Tướng: Sử dụng LLXKQĐIII phản công ở Căn Cứ Đức Huệ. Kế
hoạch phản công của tôi có 2 giai đoạn. - Giai đoạn 1: Hành quân
lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát
trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung
tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của
cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ
rút đi đến một nơi khác. - Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ
ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào
lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu,
dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở
phía Tây Căn Cứ Đức Huệ " . Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không
lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất
(Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi. Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974. (3) Công tác chuẩn bị
Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở
Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa.
Có mặt Bộ Tham Mưu Quân Đoàn, Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận và 3 tư lệnh Sư
Đoàn 5, 18, 25: Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá
Nguyễn Hữu Toán. Sau khi Bộ Tham Mưu trình bày tình hình chung ở Vùng 3
Chiến thuật và tình hình đặc biệt ở Căn Cứ Đức Huệ, Trung Tướng tư lệnh
Quân Đoàn tuyên bố chỉ định tôi thay thế tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ binh chỉ
huy mặt trận Đức Hòa - Đức Huệ và sử dụng LLXKQĐIII phản công, giải vây
Căn Cứ Đức Huệ. Tôi đứng lên trình bày ngắn gọn trước hội nghị Kế hoạch
Hành quân vượt biên đêm của LLXKQĐIII ở Gò Dầu Hạ và Hành quân Phản công
của LLXKQĐIII trên lãnh thổ Campuchia . Theo nhu cầu hành quân của
tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định
tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII: - Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; - Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;
- 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết
Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá
Nguyễn Văn Liên chỉ huy; - Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu
Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết
Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy; - Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;
- Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn
chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng
phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát; - 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát; - 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.
Ngoài ra Trung Tướng còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Bbinh cho tôi
mượn 6 giàn hỏa tiễn chống xe tăng TOW để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn
Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113
đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của CS xuất hiện trên chiến trường
Campuchia. Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII đang
hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân
về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một).
Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long
Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng
tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung
đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với
nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình
báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo: "Quân Thiết Giáp đã rút đi". Tôi biết chắc là chúng đã bị mắc lừa.
Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi
quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn
tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp - Biệt Động Quân - Pháo Binh từ
cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng
tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng.
Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu
Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình
của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người
đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục
họ tin ở sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến
thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng
ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ
chúng ta đến cứu họ. Tôi nhắc đến những chiến thắng vẻ vang năm xưa thời
Đại Tướng Đỗ Cao Trí: - Chúng ta đã từng gặp nhiều trận khó khăn gây cấn hơn trận này, chúng ta đều chiến thắng, đều vượt qua. Mỗi lần nói chuyện với các sĩ quan thuộc cấp tôi đều kết luận:
- Kỳ này nhất định phải chiến thắng, tôi sẽ cùng đi với các anh, kỳ này
nếu thất bại thì tất cả chúng ta kể cả tôi, sẽ không một ai trở về Việt
Nam. Ý của tôi, quyết tâm của tôi đã rõ ràng: một là chiến thắng trở về, hai là chết trên đất Miên. Không có con đường nào khác. 4. Veni, Vidi, Vici
(1) Ngày N đã đến. Đó là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công
Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302
CB, theo lệnh tôi đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở
hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu, các phà cao su để đưa chiến xa M48
qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò
Dầu Hạ kiểm tra Công Bbinh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.
Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và
322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng
tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im
lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ. (2) Ngày 29-4-1974, lúc 00:00
giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe
xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra
hướng biên giới Việt Miên. Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng,
các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt
vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong
đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu . Đến 03:15 giờ, tất cả
các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất
phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng
nghi ngờ. Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318
vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến
Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau
Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ
lệnh . Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ
đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức
Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến
xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. Đến
05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo
cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên
tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt.
Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ
Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch.
Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn
107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn
cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn
phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt. Đến 08:00 giờ sáng,
Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ
Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và
oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại
quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc
Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi
địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong
lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và
hàng trăm tên bị quân ta bắt sống. (3) Sáng ngày 30-4-74, các đơn
vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần
lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết
Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến
chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch. Bộ Chỉ
huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu
trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người.
Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt,
đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một
đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là
chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại
chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì
sẽ không một ai được trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng
có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy
mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó
trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.
Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận
vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh đã chiến thắng một
đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến
cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở
Zela vùng Tiểu Á báo cáo chiến thắng về La Mã "Veni, Vidi, Vici : "Tôi
đến, Tôi thấy, Tôi chiến thắng", tôi liền lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay
thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn
III. Trân trọng báo cáo: - Ngày 28-4-74: Xuất quân - Ngày 29-4-74: Phản công - Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch - Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.
(4) Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ,
phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi: - Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân
sang lãnh thổ Campuchia không? Tôi liền đáp ngay: - Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ của Việt Nam. Chính Cộng sản mới có quân trên lãnh thổ Campuchia. Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của QLVNCH ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:
- Tướng Trần Quang Khôi nói không có đưa quân sang lãnh thổ Campuchia,
nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân lực VNCH có truy
đuổi quân Cộng sản trên lãnh thổ Campuchia. (5) Ngày 3-5-1974, Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến
trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui
vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân
địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa
tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc
biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ
thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến
trường miền Nam. Các tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả
nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân
ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và
sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống
đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh
chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn
cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng
Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng
tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và
phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau. Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với tôi: - Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh. - Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.
Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một
câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux.
(Sự may mắn luôn luôn "cười" với những kẻ liều lĩnh). Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm.
Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và
Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ
một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị
Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được
đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ. Một chuẩn úy BĐQ
còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới
gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói: - Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em. Tôi cảm động ôn tồn đáp lại:
- Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm
của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân
lực chúng ta. Chúng em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi
người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em. (6) Một tuần sau tôi
nhận được một thư của DAO (Defense Attaché Office) trong đó tướng Homer
Smith chuyển lời khen ngợi của đại sứ Graham Martin đến tôi: Đây là lần
đầu tiên kể từ khi ký kết Hòa Đàm Paris, một kế hoạch hành quân được
thiết kế tuyệt hảo và được thực hiện tuyệt hảo. Hai tuần sau, tôi
nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của
Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến
thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư
ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm. (Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi) (Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh - Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III VNCH)
Trong cuộc đời của một người phụ nữ, có những lựa chọn mang theo cả một định mệnh. Có người chọn giàu sang, có người chọn danh vọng, có người chọn cuộc sống bình yên không sóng gió. Riêng tôi, năm ấy, tôi đã chọn trao cả tuổi xuân, tình yêu và cuộc đời mình cho một người lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đó là niềm vinh dự lớn lao nhất trong đời tôi.
Cho đến hôm nay, dù mái tóc đã điểm bạc, dù thời cuộc đã đổi thay biết bao lần, tôi vẫn luôn ngẩng cao đầu mà nói rằng: Tôi chưa bao giờ hổ thẹn, chưa bao giờ hối tiếc, càng không bao giờ hối hận vì đã làm vợ một người quân nhân Việt Nam Cộng Hòa.
Ngược lại, đó là điều khiến tôi hãnh diện nhất.
Hình minh hoạ của manhhai.
Tôi yêu chàng không chỉ vì tình yêu đôi lứa. Tôi yêu và kính phục nơi chàng một lý tưởng sống cao đẹp. Tôi yêu người đàn ông đã sẵn sàng đặt vận mệnh Quốc Gia lên trên quyền lợi cá nhân. Tôi yêu người thanh niên năm nào đã khoác lên mình màu áo trận để bảo vệ tự do cho đồng bào, để giữ gìn quê hương khỏi họa ngoại xâm và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, độc tài, độc đảng.
Ngày tôi trao thân gửi phận cho chàng, tôi biết mình không lấy một người đàn ông bình thường. Tôi lấy một người lính. Tôi lấy một người đã chọn con đường gian nan nhất để bảo vệ quê hương. Tôi lấy một người có thể ra đi bất cứ lúc nào theo tiếng gọi của Đơn Vị, của Trách Nhiệm, của Tổ Quốc.
Người ta thường nói đời lính nhiều gian khổ. Điều đó đúng. Nhưng điều đáng quý nhất nơi người lính Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là lòng can đảm ngoài chiến trường, mà còn là tư cách làm người.
Tôi kính phục chồng tôi không phải vì chàng mang súng. Tôi kính phục vì chàng sống ngay thẳng, trọng danh dự, biết yêu thương đồng bào, biết bảo vệ kẻ yếu và luôn đặt trách nhiệm lên trên quyền lợi riêng của mình.
Tôi yêu người thanh niên năm nào đã khoác lên mình màu áo lính để bảo vệ tự do cho đồng bào, để giữ gìn quê hương khỏi họa ngoại xâm và Chủ Nghĩa Cộng Sản ngoại lai, vô thần.
Tôi còn nhớ những ngày chiến tranh khốc liệt.
Những đêm dài nghe tiếng súng vọng về từ phương xa.
Những lần nhận được thư chàng, tôi mừng đến rơi nước mắt.
Những lần nhiều tuần lễ không có tin tức, lòng tôi như lửa đốt.
Tôi biết mỗi lần chàng ra đi là một lần đối diện với sinh tử.
Nhưng tôi chưa bao giờ ngăn cản.
Bởi tôi hiểu rằng có những bổn phận thiêng liêng hơn hạnh phúc riêng của hai người.
Nếu những người đàn ông đều chọn ở nhà để được an thân thì ai sẽ bảo vệ quê hương?
Nếu tất cả đều sợ gian khổ thì ai sẽ đứng nơi tiền tuyến?
Có những đêm dài nghe tiếng súng vọng về từ xa. Có những ngày chờ đợi thư mà lòng nóng như lửa đốt. Có những lúc nhìn thấy những người vợ khác nhận được tin dữ mà tim mình như ngừng đập.
Nhưng chưa bao giờ tôi trách chàng.
Bởi tôi hiểu rằng nếu ai cũng chỉ nghĩ đến gia đình riêng mình thì ai sẽ đứng lên bảo vệ đất nước?
Nếu ai cũng sợ hy sinh thì tự do sẽ thuộc về ai?
Tôi hiểu vì sao chàng khoác áo lính.
Tôi hiểu vì sao chàng chấp nhận hiểm nguy.
Và chính sự hiểu biết ấy đã giúp tôi đủ sức mạnh để chờ đợi.
Những năm tháng chiến tranh không chỉ thử thách người lính ngoài mặt trận mà còn thử thách những người vợ nơi hậu phương. Chúng tôi không cầm súng nhưng cũng chiến đấu theo cách của mình.
Chúng tôi chiến đấu với nỗi cô đơn.
Chiến đấu với lo âu.
Chiến đấu với thiếu thốn.
Chiến đấu với nước mắt.
Nhiều lần cuộc sống trở nên khó khăn đến mức tưởng như không thể vượt qua. Có lúc gạo trong nhà chẳng còn bao nhiêu. Có khi con đau bệnh mà chồng đang ở tận nơi xa. Có những ngày mưa gió nhìn đàn con thơ mà lòng quặn thắt.
Nhưng rồi tôi lại tự nhủ:
“Anh ấy ngoài kia còn gian khổ gấp trăm lần.”
Thế là tôi lại đứng lên.
Lại tiếp tục chèo chống mái gia đình.
Lại tiếp tục nuôi dạy các con.
Lại tiếp tục cầu nguyện cho người mình yêu thương nhất.
Chồng tôi chính là nguồn sức mạnh ấy.
Chàng không ở bên cạnh mỗi ngày, nhưng hình ảnh của chàng luôn hiện diện trong trái tim tôi.
Chàng cho tôi lòng can đảm.
Chàng cho tôi niềm tin.
Chàng cho tôi lý do để tiếp tục bước tới dù cuộc đời có khắc nghiệt đến đâu.
Có người hỏi tôi tại sao lại có thể chịu đựng nhiều đến vậy?
Tôi chỉ mỉm cười.
Bởi vì tôi biết mình đang sống cho những điều lớn hơn bản thân mình.
Đó là gia đình.
Đó là trách nhiệm.
Đó là tự do.
Đó là quê hương.
Tôi quyết tâm nuôi dưỡng các con nên người. Tôi luôn dạy chúng phải sống tử tế, biết yêu thương đồng loại, biết kính trên nhường dưới, biết phân biệt điều phải điều trái.
Tôi muốn chúng lớn lên với tư cách của người cha mà chúng hằng kính yêu.
Tôi muốn chúng hiểu rằng cha chúng đã không chiến đấu vì quyền lực hay danh lợi.
Cha chúng chiến đấu vì tự do.
Vì quyền được sống như một con người.
Vì quyền được nói lên sự thật.
Vì quyền được xây dựng tương lai bằng sự chăm chỉ làm việc của mình.
Tôi muốn các con hiểu rằng có những giá trị đáng quý hơn tiền bạc.
Đó là danh dự.
Đó là lòng yêu nước.
Đó là nhân phẩm.
Đó là trách nhiệm đối với đồng bào và dân tộc.
Tôi học cách chờ đợi.
Tôi học cách chịu đựng.
Tôi học cách giấu nước mắt vào trong.
Có những đêm chỉ biết ôm con nhìn lên bàn thờ cầu nguyện.
Có những ngày phải một mình quán xuyến mọi việc trong nhà.
Có những lúc nghe tin chiến sự dữ dội, lòng như có hàng ngàn mũi dao đâm vào tim.
Nhưng tôi vẫn đứng vững.
Bởi tôi biết nơi chiến trường, chàng còn gian nan gấp bội.
Tình yêu của tôi dành cho chàng không chỉ là sự thương nhớ mà còn là lòng kính phục.
Kính phục ý chí kiên cường.
Kính phục nhân cách ngay thẳng.
Kính phục tinh thần trách nhiệm của một người quân nhân chân chính.
Rồi biến cố lịch sử ập đến.
Đất nước đổi thay.
Biết bao gia đình tan tác.
Biết bao người lính bị đày đọa trong lao tù.
Biết bao người vợ phải gánh vác cả gia đình trên đôi vai gầy yếu.
Gia đình tôi cũng không nằm ngoài số phận ấy.
Những năm tháng khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua.
Có lúc cơm không đủ ăn.
Có lúc tương lai mịt mờ như màn đêm không ánh sáng.
Có lúc bất công phủ xuống cuộc đời như những cơn giông bão không dứt.
Nhưng chưa một lần tôi trách chồng mình.
Chưa một lần tôi nghĩ rằng giá như ngày xưa mình chọn một con đường khác.
Không.
Tôi vẫn luôn tin rằng mình đã chọn đúng.
Những biến động của thời cuộc đã đem đến cho gia đình chúng tôi biết bao thử thách. Có lúc tưởng như mọi công lao và hy sinh đều bị phủ nhận. Có lúc bất công khiến lòng người đau đớn.
Nhưng tôi chưa từng khuất phục.
Bởi sự thật vẫn là sự thật.
Những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bằng tất cả lòng yêu nước của mình.
Họ chiến đấu để bảo vệ quê hương khỏi chiến tranh và bạo lực.
Họ chiến đấu để gìn giữ quyền tự do của người dân.
Họ chiến đấu với niềm tin rằng một ngày mai tốt đẹp hơn sẽ đến cho dân tộc.
Chính niềm tin ấy cũng là niềm tin của tôi.
Dù trải qua bao nhiêu gian nan, tôi vẫn không để lòng mình hóa cay đắng.
Dù gặp bao nhiêu nghịch cảnh, tôi vẫn không đánh mất hy vọng.
Dù thời gian có trôi qua bao lâu, tôi vẫn giữ nguyên sự kính trọng đối với người chồng quân nhân của mình.
Tôi vẫn cầu nguyện cho chàng.
Vẫn yêu thương chàng như ngày đầu gặp gỡ.
Vẫn tự hào khi nhắc đến màu áo mà chàng đã khoác lên người.
Bởi tôi biết rằng đằng sau màu áo ấy là biết bao hy sinh, biết bao trách nhiệm và biết bao tình yêu dành cho quê hương.
Hôm nay nhìn lại chặng đường đã qua, tôi có thể nói với tất cả lòng chân thành rằng:
Nếu được chọn lại từ đầu, tôi vẫn chọn làm vợ một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Tôi vẫn sẽ chờ đợi.
Vẫn sẽ yêu thương.
Vẫn sẽ đồng hành.
Vẫn sẽ giữ gìn mái ấm gia đình trong mọi hoàn cảnh.
Vẫn sẽ dạy các con sống xứng đáng với những gì cha chúng đã hy sinh.
Bởi cuộc đời có thể đổi thay, thời cuộc có thể đảo điên, nhưng chân lý không bao giờ thay đổi.
Tình yêu sắt son, chân thành không thay đổi.
Danh dự không thay đổi.
Lòng yêu nước không thay đổi.
Và niềm tin vào tự do cũng không bao giờ thay đổi.
Tôi tin rằng sau những đêm dài rồi sẽ có bình minh.
Sau những giông bão rồi sẽ có ngày trời quang mây tạnh.
Sau những mất mát rồi sẽ có sự hồi sinh.
Và dù cuộc đời có đặt trước mặt chúng tôi bao nhiêu thử thách nữa, tôi vẫn sẽ ngẩng cao đầu mà nói:
“Tôi là vợ của một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”
Đó là niềm vinh dự lớn nhất đời tôi.
Tôi là vợ của một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đó là niềm hãnh diện của cả cuộc đời tôi.
Và dù phải đi qua bao nhiêu thử thách nữa, tôi vẫn sẽ giữ nguyên niềm hãnh diện ấy cho đến hơi thở cuối cùng.
Một niềm vinh dự mà tôi sẽ mang theo cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay.