Saturday, 24 October 2026

GƯƠNG MẶT TRÊN TẤM BẢNG HIỆU :"Những kẻ sẽ giết tiếp người"

 

Những kẻ giết người trong lịch sử nhân loại
(cho những người đã một lần mất nước)
Ngày 15 tháng 5 năm 1975, Sài Gòn mở cuộc diễn binh mừng chiến thắng đầu tiên. Trên khán đài danh dự có một người đàn ông sanh ở Chợ Lớn, du học Paris, đang giữ chức Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Ông tên Trương Như Tảng, một trong những người dựng nên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Ông nhìn xuống đường. Đoàn quân đi qua, đơn vị nào cũng mang cờ hiệu miền Bắc. Ông quay sang hỏi người đứng cạnh, Đại tướng Văn Tiến Dũng, các sư đoàn 1, 5, 7, 9 lừng danh của Mặt Trận đâu cả rồi. Ông Dũng đáp, giọng lạnh tanh: quân đội nay đã "thống nhất".
Ông Tảng hiểu ra ngay trên khán đài hôm ấy. Nhiều năm sau ông viết rằng giây phút chiến thắng cũng là giây phút họ bắt đầu khai tử Mặt Trận. Bạn bè ông thì than: người ta chôn Mặt Trận mà không thèm làm đám.
Tháng 8 năm 1978, vị Bộ trưởng Tư pháp ấy dắt vợ con xuống ghe vượt biển. Tàu Liên Hiệp Quốc vớt họ gần một giàn khoan dầu ngoài khơi Nam Dương, rồi đưa vào trại tị nạn trên đảo Galang, như bao thuyền nhân khác.
Người dựng Mặt Trận, rốt cuộc, cũng phải chạy trốn Mặt Trận.
MỘT TẤM BẢNG HIỆU ĐẸP
Thưa quý vị, những kẻ giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại hiếm khi ra mắt bằng tên thật. Từ thời Lenin, người cộng sản đã có hẳn một phép gọi là mặt trận thống nhất: gom mọi người bất mãn, mọi phe phái, mọi tôn giáo về dưới một tấm bảng hiệu thật đẹp, còn bàn tay giật dây thì giấu sau tấm màn.
Tấm bảng hiệu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Năm năm 1960 ghi những chữ mà trí thức nào nghe cũng xiêu lòng: độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo. Người cày có ruộng. Nam nữ bình quyền. Ông Tảng tin. Bao nhiêu sinh viên, giáo sư, luật sư Sài Gòn tin. Họ cho Mặt Trận mượn tên tuổi, mượn luôn sự tử tế của mình. Tới lúc tấm bảng được gỡ xuống thì người cày mất ruộng, nhà văn vào tù, nhà chùa nhà thờ muốn hành lễ phải xin phép.
Hơn nửa thế kỷ sau, trên đất người, chúng ta lại thấy một tấm bảng hiệu đẹp như thế. Nó ghi: công bằng xã hội, quyền lựa chọn, bao dung, bảo vệ nền dân chủ. Người treo tấm bảng ấy là đảng Dân Chủ Hoa Kỳ.
Mới đây, trên Facebook có một tấm hình kể tên bốn kẻ giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại, rồi hỏi: "Trong khi đảng Dân chủ ủng hộ TẤT CẢ bọn chúng?" Bên dưới là bà Alexandria Ocasio-Cortez, bà Ilhan Omar, ông Zohran Mamdani, ông Bernie Sanders, bà Elizabeth Warren và ông Abdul Al-Sayed.
Người viết xin trả lời: có. Cả bốn kẻ ấy, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, Hồi giáo quá khích và phá thai, đều đã có chỗ ngồi sau tấm bảng hiệu của đảng Dân Chủ. Chúng ngồi ở đó theo đúng cái cách mà người Việt mình đã thấy một lần: trong một mặt trận.
Mặt trận nào cũng cần thêm một món nữa: một cái tên để gọi đối thủ, cho dễ ra tay.
Ngày trước chúng gọi Việtnam Cộng Hoà là "Ngụy". Hôm nay nửa nước Mỹ bị gọi là "phát xít". Tháng 10 năm 2024, ứng viên tổng thống Kamala Harris nói trên đài CNN rằng bà tin ông Trump là phát xít. 11 tháng sau, Charlie Kirk bị bắn chết trước 3 ngàn người ở Utah. Trên vỏ đạn, kẻ sát nhân khắc: "Này thằng phát xít, chụp lấy!"

GƯƠNG MẶT TRÊN TẤM BẢNG HIỆU
Tấm bảng hiệu nào cũng cần một gương mặt. Năm 2008, gương mặt của đảng Dân Chủ được in lên một tấm bích chương: ông Barack Hussein Obama ngước nhìn về phía xa, mặt tô màu đỏ với màu xanh, bên dưới một chữ HOPE, hy vọng. Ai từng thấy bích chương tuyên truyền dán trên tường Hà Nội, hay Sài Gòn sau 1975, nhìn tấm hình ấy chắc thấy quen. Gần 70 triệu người Mỹ tin gương mặt ấy, như năm 1960 ông Tảng tin tấm bảng hiệu của Mặt Trận.
Năm 2013 Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vào Tòa Bạch Ốc, tặng chủ nhà bản sao một lá thư của Hồ Chí Minh từng gởi Tổng thống Truman. Ngồi trong Phòng Bầu Dục, Obama nói với ký giả rằng họ Hồ "thật ra đã được cảm hứng từ bản Tuyên ngôn Độc lập và bản Hiến pháp Hoa Kỳ, và từ những lời của Thomas Jefferson".
Obama nói đúng có một nửa. Ở Ba Đình năm 1945, họ Hồ mở đầu bản tuyên ngôn của mình bằng chính lời Jefferson: tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Đó là tấm bảng hiệu. Phía sau tấm bảng là Cải cách Ruộng đất, là vụ Nhân Văn Giai Phẩm, là những hố chôn người ở Huế Tết Mậu Thân, là những trại "cải tạo" sau 1975.
68 năm sau, một tổng thống Mỹ đứng đọc lại tấm bảng hiệu ấy giùm cho người cộng sản.
Ở trong nước Mỹ, guồng máy dưới tay Obama cũng biết cách đối xử với phe bên kia. Chưa đầy 3 tuần trước ngày bầu cử năm 2016, FBI xin được trát của tòa án tình báo FISA để theo dõi ông Carter Page, người từng làm cố vấn cho ứng viên Trump. 3 năm sau, Tổng Thanh tra Bộ Tư pháp đếm ra 17 chỗ sai sót và bỏ sót nghiêm trọng trong mấy bộ hồ sơ xin trát ấy.
Năm ngoái, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard gọi những gì chánh quyền Obama làm với ông Trump là "một cuộc đảo chánh kéo dài nhiều năm và một âm mưu phản quốc". Phát ngôn viên của ông Obama gọi lời tố cáo ấy là "kỳ quặc". Người Việt mình, ai từng có công an khu vực ghé nhà "thăm hỏi", nghe chuyện ấy chẳng thấy có gì kỳ quặc.
BÚA LIỀM SAU CHỮ "CÔNG BẰNG"
Kẻ thứ nhất và kẻ thứ nhì là một người mặc hai cái áo. Theo chính Marx và Lenin, xã hội chủ nghĩa là chặng đầu, cộng sản chủ nghĩa là chặng chót của cùng một con đường. Cái chế độ ở quê nhà đến nay vẫn tự xưng là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và cái chính thể họ Hồ dựng lên năm 1945 cũng tự xưng là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chữ "xã hội", chữ "dân chủ" trên bảng hiệu chưa từng cứu được ai.
Có một video trên internet có hình 3 chữ trắng đè lên huy hiệu bông hồng của tổ chức Democratic Socialists of America (DSA). Redistribution. Retribution. Regression (Chia lại, trả thù, thụt lùi).
Người làm video ấy chắc chưa từng sống ở Việt Nam, vậy mà làm trúng y lịch sử của chúng ta. Miền Bắc năm 1953 chia ruộng, rồi đem địa chủ ra đấu tố giữa sân đình, rồi gom hết ruộng vào hợp tác xã. Miền Nam sau 1975 đổi tiền, đánh tư sản, rồi đưa sĩ quan, công chức đi "cải tạo": thông cáo dặn mang lương thực đủ 10 ngày, có người ở lại 10 mấy năm. Rồi cả nước ăn bo bo, cầm sổ xếp hàng mua gạo, cho tới năm 1986 chính đảng Cộng sản phải nhìn nhận mình đã sai.
Ở xứ này, chữ "chia lại" từng theo một ứng viên vô tới Tòa Bạch Ốc. Năm 2008, một anh thợ ống nước ở Ohio hỏi ứng viên Obama về thuế, ông đáp: "Tôi nghĩ khi mình đem của cải chia ra cho rộng thì ai cũng có lợi."
4 năm sau, đang tranh cử nhiệm kỳ hai, ông nói trước đám đông ở Virginia: "Nếu quý vị có một cơ sở làm ăn, thì quý vị đâu có dựng nên nó. Người khác làm cho nó thành."
Người Việt mình tới xứ này với hai bàn tay trắng, mở tiệm phở, tiệm nail, tiệm may, tiệm sửa xe, làm mười mấy tiếng một ngày để nuôi con ăn học. Nghe một ông tổng thống nói cái tiệm ấy đâu phải do mình dựng, nhiều người chắc nhớ cái ngày cán bộ phường tới kiểm kê nhà cửa, ghi vô sổ là tài sản của nhân dân.
Năm 2025, cử tri Nữu Ước bầu Zohran Mamdani, hội viên Đảng DSA (Democratic Socialist of America) làm thị trưởng thành phố lớn nhất nước Mỹ. Ông từng nói thẳng trên đài NBC: "Tôi không nghĩ là chúng ta nên có tỷ phú." Vào nhiệm sở chưa đầy sáu tháng, ông đã cho giữ nguyên giá thuê của chừng một triệu căn chung cư, và đang lo mở chợ do thành phố làm chủ. Người Sài Gòn cũ nghe chữ "chợ của thành phố" là nhớ ngay cái hợp tác xã mua bán đầu hẻm.
Cái đáng lo nằm ở chỗ khác: cả guồng máy đảng Dân Chủ đã xếp hàng sau lưng ông. 11 ngày trước ngày bầu, ông Hakeem Jeffries, lãnh tụ khối Dân Chủ ở Hạ Viện, đứng ra ủng hộ ông Mamdani. 4 ngày trước ngày bầu, chính Obama điện thoại cho Mamdani nửa tiếng đồng hồ, khen cuộc vận động của ông là đáng nể, và hứa sẽ làm người cho ông hỏi ý nếu ông đắc cử.
Tháng 2 năm 2023, khi Hạ Viện biểu quyết lên án "những kinh hoàng của chủ nghĩa xã hội", 109 dân biểu Dân Chủ còn bỏ phiếu thuận. Tháng 11 năm 2025, 17 ngày sau khi Mamdani đắc cử, con số ấy còn 86, và số phiếu chống lên 98. Người ôn hòa đứng trước bảng hiệu, người cực đoan cầm dây, và mỗi năm sợi dây lại kéo thêm một khúc.
NHỮNG ĐỨA TRẺ CHẾT CHƯA KỊP KHÓC
Kẻ giết người thứ tư không đội nón cối, không mang súng. Nó làm việc trong phòng mạch có giấy phép hành nghề, và nạn nhân của nó chết trước khi kịp cất tiếng khóc chào đời. Theo viện Guttmacher, một viện nghiên cứu đứng về phe ủng hộ phá thai, năm 2025 nước Mỹ có chừng 1 triệu 100 ngàn ca phá thai, hơn 3000 ca mỗi ngày. Cộng dồn từ năm 1973 tới nay, con số đã vượt 60 triệu. Như thể cả miền Nam của chúng ta biến mất ba lần.
Trên tấm bảng hiệu, kẻ này mang tên "quyền lựa chọn". Thời ông Bill Clinton, đảng Dân Chủ còn nói phá thai phải "an toàn, hợp pháp và hiếm hoi". Chữ "hiếm hoi" đã rơi mất từ lâu. Cương lĩnh năm 2024 của đảng hứa đưa Roe trở lại làm luật cho cả nước, và đòi bỏ điều khoản Hyde để tiền thuế liên bang được dùng trả cho phá thai. Người Việt mình theo đạo Phật thì giữ giới không sát sanh, theo đạo Chúa thì giữ điều răn chớ giết người. Nếu đảng ấy làm được điều nó hứa, đồng tiền thuế của chính chúng ta sẽ trả tiền cho những ca phá thai ấy.
Ngày 23 tháng 1 năm 2025, Hạ Viện biểu quyết dự luật buộc bác sĩ phải cứu chữa những em bé còn sống sót sau một ca phá thai. 204 dân biểu Dân Chủ bỏ phiếu chống; họ nói luật cũ đã đủ. Một em bé đã nằm ngoài bụng mẹ, còn thở, còn cựa quậy, vậy mà 204 vị dân cử không chịu ghi thêm một lần vào luật rằng em phải được cứu.
Hơn 20 năm trước 204 vị dân cử ấy, đã có một người mở đường. Ở Thượng Viện tiểu bang Illinois năm 2002, nghị sĩ Barack Obama đứng lên chống một dự luật cùng mục đích, nói rằng rốt cuộc chuyện này "là chuyện phá thai, chớ không phải chuyện những đứa trẻ sanh ra còn sống".
Năm sau, Obama làm chủ tịch ủy ban xét dự luật. Người ta sửa dự luật, chép vào nguyên văn điều khoản của bản luật liên bang mà Thượng Viện Hoa Kỳ đã thông qua không một ai phản đối, để khỏi đụng tới chuyện phá thai. Obama vẫn bỏ phiếu chống, và dự luật chết ngay trong ủy ban của ông.
Rồi Obama mang cái nhìn ấy đi tranh cử tổng thống. Nói về hai cô con gái nhỏ của mình, Obama bảo ông sẽ dạy chúng về đạo đức, "nhưng nếu chúng lỡ lầm, tôi không muốn chúng bị phạt bằng một đứa con". Vào Tòa Bạch Ốc rồi, Obama thành vị tổng thống đầu tiên đang tại chức tới nói chuyện ở đại hội thường niên của Planned Parenthood, tổ chức làm nhiều ca phá thai nhứt nước Mỹ, và chấm dứt bài nói bằng câu: "Cám ơn Planned Parenthood. Xin Thượng Đế ban phước cho quý vị."
Năm 1994, tại buổi Điểm Tâm Cầu Nguyện Quốc Gia ở Hoa Thịnh Đốn, trước mặt vợ chồng Tổng thống Clinton, Mẹ Teresa nói: kẻ phá hoại hòa bình lớn nhất hôm nay là phá thai. 32 năm sau, đảng của ông Clinton đã đi một quãng rất xa kể từ buổi sáng hôm ấy.
TỪ TEHERAN TỚI KABUL
Kẻ thứ ba cần gọi cho đúng tên. Người Việt mình từng sống bên những người Chàm theo đạo Hồi ở Châu Đốc, làm ăn chung, buôn bán chung. Kẻ giết người là Hồi giáo quá khích, cái chủ thuyết muốn đem gươm và luật sharia thay cho lá phiếu, cái mà Tổng thống Trump, trong diễn văn nhậm chức năm 2017, đã hứa xóa khỏi mặt đất.
Một đoạn video đang chuyền tay kể từng việc nó làm: gả con nít, coi đàn bà như món đồ, quăng người đồng tính từ nóc nhà xuống, đánh bom tự sát, bách hại người theo đạo Chúa. Không việc nào là bịa. Quân Nhà nước Hồi giáo đã tự quay phim những cái nóc nhà ấy. Ngày 7 tháng 10 năm 2023, Hamas giết chừng một 1200 người ở miền Nam Israel chỉ trong một ngày.
Phần việc của đảng Dân Chủ là mở cửa, rồi che chở. Năm 1979, dưới thời một tổng thống Dân Chủ, Teheran rơi vào tay các giáo sĩ Hồi giáo. 37 năm sau, một tổng thống Dân Chủ khác cho chở tới chế độ giáo sĩ ấy 400 triệu Mỹ kim tiền mặt chất trên những tấm kệ gỗ, đúng ngày Teheran thả 4 người Mỹ bị giam. Bộ Ngoại giao của Obama ban đầu nói tin tiền dính với người là "hoàn toàn sai", rồi sau cũng phải nhìn nhận đã giữ số tiền lại làm con bài cho tới khi người được thả.
Obama cũng không chịu gọi kẻ thù cho đúng tên. Đầu năm 2014, ông ví nhóm Nhà nước Hồi giáo với một đội banh trừ bị, mặc áo đội Lakers thì cũng đâu có thành Kobe Bryant. Tháng 6 năm ấy, đội "trừ bị" ấy chiếm Mosul, thành phố lớn thứ nhì của Iraq. 2 năm sau, khi một kẻ thề trung thành với Nhà nước Hồi giáo vừa bắn chết 49 người trong một hộp đêm ở Orlando, ông Obama đứng trước ống kính nói rằng cụm chữ "Hồi giáo quá khích" chẳng có phép mầu gì, chỉ là "một luận điệu chánh trị".
Tới phiên Joe Biden, người từng làm phó cho ông Obama suốt 8 năm. Ngày 8 tháng 7 năm 2021, ông nói với báo chí rằng quân Taliban không thể nào sánh với quân đội Bắc Việt, và sẽ không có chuyện người ta phải được bốc khỏi tòa đại sứ Mỹ ở Afghanistan. 38 ngày sau, Kabul thất thủ, trực thăng Mỹ lại bốc người khỏi tòa đại sứ. 11 ngày sau nữa, một quả bom tự sát ở cổng phi trường Kabul giết 13 quân nhân Mỹ. Người Việt mình nhìn những bàn tay bám vào thân phi cơ ở Kabul mà thấy lại Tân Sơn Nhứt tháng Tư năm 1975.
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC CHE CHỞ
Trong nhà, đảng ấy che chở những người nói đỡ cho thứ chủ thuyết kia, và không ai được che chở kỹ bằng ả Ilhan Omar. Ả sanh ở Somalia, sống 4 năm trong trại tị nạn Dadaab bên Kenya, năm 1995 tới Nữu Ước. Nhiều người trong chúng ta nghe chuyện ấy là thấy thương, vì chính mình cũng từng ngồi ở Galang, ở Pulau Bidong, ngày ngày ngóng tên trên tấm bảng danh sách đi định cư. Năm 2018, ả đắc cử dân biểu liên bang. Nước Mỹ mở cửa cho ả như đã mở cửa cho chúng ta, rồi còn trao cho ả một cái ghế trong Quốc Hội.
Ngồi vô cái ghế ấy được hơn 1 tháng, ả viết trên mạng rằng các chánh khách Mỹ bênh Israel là vì tiền, "toàn là vì mấy tờ Benjamin", tức tờ giấy 100 Mỹ kim in hình Benjamin Franklin. Chính ban lãnh đạo khối Dân Chủ ở Hạ Viện phải gọi đó là luận điệu bài Do Thái "hết sức xúc phạm", và ả xin lỗi.
Hơn 2 tuần sau, ả lại nói những người bênh Israel ở xứ này đang đòi người ta "trung thành với một nước ngoài". Ban lãnh đạo đảng soạn một nghị quyết lên án nạn bài Do Thái, nhưng cánh cấp tiến phản đối, và bản nghị quyết được sửa thành lên án luôn kỳ thị Hồi giáo, kỳ thị chủng tộc, đủ thứ kỳ thị, không nhắc tên ả một chữ. Nancy Pelosi còn đứng ra nói giùm: Ilhan Omar chỉ là "có một kinh nghiệm khác trong cách dùng chữ".
Cũng năm đó, nói trước hội CAIR, ả gọi vụ 11 tháng 9 là lúc "có mấy người đã làm một chuyện gì đó". Gần 3000 người chết trong buổi sáng hôm ấy. 2 năm sau, ả viết: "Chúng ta đã thấy những tội ác không thể tưởng tượng nổi do Hoa Kỳ, Hamas, Israel, Afghanistan và Taliban gây ra." Trong một câu, nước Mỹ đứng chung một hàng với Taliban. Tới khi Hạ Viện đưa ả ra khỏi Ủy ban Ngoại giao năm 2023, không một dân biểu Dân Chủ nào bỏ phiếu thuận.
Ả cũng không đứng một mình. Chưa đầy 1 tháng sau ngày 7 tháng 10, dân biểu Rashida Tlaib bênh câu khẩu hiệu "từ sông ra tới biển", câu có trong văn kiện của chính Hamas, là "một lời kêu gọi đầy khát vọng cho tự do, nhân quyền và chung sống hòa bình". Khi Hạ Viện khiển trách ả Tlaib, 184 dân biểu Dân Chủ bỏ phiếu chống.
Charlie Kirk bị bắn chết chưa được 1 tuần, Ilhan Omar đã đăng lại trên mạng 1 đoạn video gọi người vừa chết là "một con người đáng khinh". Khi Hạ Viện đem ả ra khiển trách, cả khối Dân Chủ đứng ra cứu, và ả thoát với cách biệt đúng 1 phiếu.
Còn chuyện tiền. Tháng 2 năm 2025, Ilhan Omar viết trên mạng X rằng ai cứ coi bản khai tài sản của ả thì sẽ thấy ả "có vài ngàn còn khó, nói chi tới bạc triệu". Mấy tháng sau, bản khai của ả nộp cho Quốc Hội ghi phần hùn của chồng ả trong hai công ty, một hãng rượu vang và một công ty đầu tư, trị giá tới 30 triệu Mỹ kim. Năm trước đó, cũng phần hùn ấy chỉ được khai không quá 51 ngàn.
Tháng 4 năm nay, ả sửa lại bản khai thuế, nói rằng trừ nợ ra thì hai công ty ấy chẳng còn đồng nào. Giờ thì bà Jeanine Pirro, Biện lý Liên bang ở Hoa Thịnh Đốn, cho biết văn phòng bà đang xem xét các bản khai ấy.
Rồi tới chuyện giấy tờ. Từ năm 2016, Ilhan Omar đã bị tố cáo rằng ông Ahmed Nur Said Elmi, người ả làm hôn thú năm 2009, thật ra là anh em ruột với ả. Ả gọi lời tố cáo ấy là "vô lý và xúc phạm".
Phó Tổng thống JD Vance thì nói thẳng: "Ilhan Omar chắc chắn đã gian lận di trú đối với Hoa Kỳ."
6 giờ sáng ngày 12 tháng 10 vừa rồi, nhân viên điều tra của Bộ Nội An cầm trát tòa vào khám nhà ả ở Hoa Thịnh Đốn.
Theo đài Fox, cuộc điều tra nhắm vào bộ hồ sơ di trú mà người cha quá cố của ả đã khai khi ả còn nhỏ. Ả nói đây là mưu toan "nhắm vào kẻ thù chánh trị", và ả vô tội. Hakeem Jeffries lập tức gọi cuộc khám xét là chuyện "hết sức đáng lo ngại", và hứa sẽ đòi "trách nhiệm tới cùng".
Người Việt mình tới xứ này cũng bằng một bộ hồ sơ tị nạn. Mấy chục năm nay chúng ta treo cờ Mỹ trước nhà, cho con đi lính Mỹ, và chưa ai trong chúng ta ngồi trong Quốc Hội mà đặt nước Mỹ chung một hàng với Taliban. Trên tấm bảng hiệu của đảng Dân Chủ, chuyện che chở ả Ilhan Omar có một cái tên đẹp: bao dung.
THÀNH PHẦN THỨ BA
Người Sài Gòn những năm 1970 còn nhớ một chữ: thành phần thứ ba. Danh từ chính xác hơn là những kẻ “Ăn cơm Quốc Gia mà thờ ma Cộng Sản”. Đó là những người không nhận mình theo cộng sản, cũng không chịu đứng hẳn về phía Quốc gia. Họ nói chuyện hòa bình, hòa hợp hòa giải, và tự gọi mình là người ôn hòa. Hiệp định Paris năm 1973 còn chừa cho họ một chỗ trong cái Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc. Ngày 28 tháng 4 năm 1975, người được phe ấy trông đợi nhất, tên bại tướng Dương Văn Minh, lên làm Tổng thống. 2 ngày sau, chính hắn đọc lệnh đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn.
Nước Mỹ hôm nay cũng có thành phần thứ ba của nó. Người ta gọi họ là RINO, Cộng Hòa chỉ có cái tên. Tháng này ở Texas, ứng viên Thượng Viện của đảng Cộng Hòa là ông Ken Paxton, người hồi tháng 2 đã kiện để đóng cửa các chi nhánh CAIR trong tiểu bang. Đối thủ của ông, dân biểu tiểu bang James Talarico, nói rằng "Kinh Thánh im lặng về phá thai".
Cô Barbara Bush, con gái cựu Tổng thống George W. Bush, góp tiền cho ủy ban vận động đang chi nhiều nhất để giúp ông Talarico. Ông Neil Bush, em ruột cựu Tổng thống, bỏ phiếu cho ông Talarico rồi lên Facebook giải thích: tư cách quan trọng hơn đảng phái. Người Sài Gòn cũ nghe giọng ấy là nhận ra ngay, giọng của thành phần thứ ba.
Texas chưa bầu một người Dân Chủ nào vào chức vụ toàn tiểu bang từ năm 1994. Muốn phá cái kỷ lục 32 năm ấy, đảng Dân Chủ cần đúng những lá phiếu "vì tư cách" như thế. Ở Hoa Thịnh Đốn cũng vậy: năm ngoái, Ilhan Omar thoát bị khiển trách nhờ 4 dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu cứu. Bao giờ cũng vậy, cánh cửa cuối cùng được mở từ bên trong, bởi thành phần thứ ba.
LÁ PHIẾU
Tới đây, chắc nhiều bà con mình nghĩ tới ông dân biểu Dân Chủ ở địa hạt mình. Tết nào cũng ghé hội chợ Tết của cộng đồng, chụp hình với các cụ cựu quân nhân. Ông ấy đâu phải cộng sản. Ông ấy đâu bênh Hamas.
Đúng vậy. Ông Trương Như Tảng cũng là một trí thức du học Paris, một người tin vào hòa hợp hòa giải. Chính ông góp tay soạn ra chánh sách ấy cho Mặt Trận. Sau 1975, ông tranh đấu cho nó, và thua.
Khóa Quốc Hội mới nào cũng mở đầu bằng một việc: bầu Chủ tịch Hạ Viện. Ông dân biểu địa hạt của quý vị sẽ bỏ phiếu cho ông Hakeem Jeffries, người đã đứng ra ủng hộ ông Mamdani. Đảng nắm đa số sẽ nắm hết ghế chủ tịch các ủy ban, và Chủ tịch Hạ Viện sẽ định đoạt dự luật nào được đem ra biểu quyết, dự luật nào bị xếp xó. Lá phiếu không biết ông dân biểu của quý vị hiền hay dữ. Lá phiếu chỉ đếm phe.
Giả như ông ấy muốn cưỡng lại, ông cũng chẳng cưỡng nổi. Những người Dân Chủ ôn hòa từng dám cưỡng lại, như Joe Lieberman, Kyrsten Sinema, Joe Manchin, rốt cuộc đều phải bỏ đảng mà đi. Trong một mặt trận, người ôn hòa được giữ lại để đứng trước bảng hiệu. Tới ngày diễn binh, người ta không cần họ nữa.
Người Việt mình đã học bài này bằng máu. Tháng 4 năm 1975, Tổng thống Gerald Ford xin Quốc Hội 722 triệu Mỹ kim viện trợ quân sự khẩn cấp cho miền Nam. Quốc Hội, nơi đảng Dân Chủ nắm đa số ở cả hai viện, không chấp thuận. 20 ngày sau, chiến xa Cộng Sản Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập.
Ông Trương Như Tảng mất ở Paris năm 2005, xa cái miền Nam mà ông từng tin mình đi giải phóng. Ông chỉ cho Mặt Trận mượn tên.
Những kẻ giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại ít khi phải phá cửa mà vào. Chúng được mời vào, bởi những kẻ “Ăn cơm Quốc Gia mà thờ ma Cộng Sản”, dưới những tấm bảng hiệu đẹp.
Ngày 3 tháng 11, xin đừng cho những kẻ giết người mượn lá phiếu của mình.

Wednesday, 21 October 2026

An Lộc địa sử ghi chiến tích

 

Trong trận An Lộc hồi Mùa hè đỏ lửa 1972, bộ đội cộng sản Bắc Việt bị cấp trên lừa dối khốn nạn là thành phố đã được giải phóng nên cứ lái xe vào tiếp thu. Kết quả là hàng chục hay trăm xe thiết giáp bị quân trú phòng và máy bay bắn hạ.

Nhưng thành phố này cũng tan tành gần như thành bình địa, giống một thành phố bị trúng bom nguyên tử, sau 3 tháng bị mấy sư đoàn Vi Xi bao vây từ tháng Tư cho đến tháng Bảy năm 1972.

Quân trú phòng và dân chúng không còn lương thực. Người bị thương nặng thì đã chết vì không được di tản, chỉ còn người bị thương nhẹ mới sống sót.

Dân và lính cùng bị thương chết, ăn ngủ bài tiết trong những căn hầm chật chội suốt mấy tháng bị bao vây dưới trời mưa đại pháo kích.

Máy bay phải thả dù tiếp tế, mà theo nhà văn Phan Nhật Nam thì dù thả xuống 10 cái là hết 9 cái rớt ra ngoài lọt vào tay Bắc quân. Tù binh Vi Xi khi bị bắt đòi ăn đồ hộp vì đã quen miệng với thức ăn tiếp tế do máy bay thả.

Mới đầu công tác thả dù tiếp tế do Không quân Việt Nam Cộng Hòa đảm trách bằng máy bay C-123. Nhưng sau khi một chiếc C-123 của Không quân Việt Nam Cộng Hòa bị phòng không bắn rớt và toàn thể phi hành đoàn tử nạn, Không quân VNCH ngừng tiếp tế và để Không quân Mỹ dùng C-130 thả dù. Tuy nhiên có một chiếc C-130 của Mỹ cũng bị bắn rớt, toàn thể phi hành đoàn tử nạn, và hàng chục chiếc C-130 khác bị trúng phòng không hư hại nặng.

Trong ba tháng bị bao vây, An Lộc bị hàng trăm ngàn đạn pháo kích của Bắc quân rót vào. Như trong một ngày ở tháng Tư, thành phố bị 8.000 trái đạn pháo kích và chiến xa Cộng quân chia làm mấy mũi tiến vào thành phố. Xe tăng Vi Xi đã tới gần hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng chỉ mấy trăm thước. Nhưng cuối cùng cuộc tấn công đã bị bẻ gãy.

Thử hỏi một thị trấn bé nhỏ như An Lộc bị pháo chừng vài chục trái hỏa tiễn là đủ xanh mặt náo loạn rồi. Đằng này bị 8.000 đạn pháo bắn vào thành phố một ngày, và thiết giáp địch ùn ùn tiến vào. Quả thật người dân An Lộc và quân trú phòng đã có một trái tim thép mới tồn tại.

Theo một số tài liệu thì An Lộc đã không thất thủ, vì quân trú phòng bị vây chặt không một khe hở cho nên không còn lựa chọn nào khác là phải tử thủ.

Ngoài ra Tướng Mỹ chỉ huy quân đội Mỹ ở Quân khu 3 ra lịnh các Cố vấn Mỹ phải ở lại với quân trú phòng Việt Nam Cộng Hòa để giúp yểm trợ phi pháo. Tướng lãnh Mỹ muốn binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ vững An Lộc và dùng thành phố này làm cục nam châm để hút các đơn vị cộng sản Bắc Việt tới gần rồi dùng B-52 tiêu diệt.

Khi Tiểu đoàn 6 Dù Việt Nam Cộng Hòa bị quánh tan hàng ở Đồi Gió, thì chính Tướng Mỹ chỉ huy quân đội Mỹ ở Quân khu 3 điều động ba phi vụ B-52 rải thảm để lính Dù mở đường máu thoát khỏi Đồi Gió.

Năm 2013 người viết có đến thăm thành phố An Lộc, và có lên Đồi Gió chỉ cách An Lộc khoảng 4 cây số. Những cánh rừng cao su chung quanh giờ đây xanh rì và im vắng. Sau đó có tìm đến cái ấp Srok Ton Cui của tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa, khi quân Dù tấn công vào và dùng nơi đây để tải thương bằng trực thăng.

Mình gõ vào cổng một căn nhà vắng vẻ nằm sâu trong khu vườn um tùm. Chung quanh nhà có hàng rào và cổng xi măng cửa sắt tuy cũ kỹ tróc sơn nhưng lành lặn. Chắc là được xây dựng sau chiến tranh.

Một thiếu phụ khoảng 50 ra mở cổng và đứng nói chuyện tại chỗ. Bà ấy nhỏ nhẹ từ tốn đằm thắm, không có dấu hiệu gì đã sống qua những ngày binh lửa khủng khiếp ấy. Bà lớn lên ở đây và cho biết ấp Srok Ton Cui tọa lạc gần đó. Bà vẫn còn nhớ tiếng trực thăng đáp xuống để bốc thương binh Dù.

Thương quá những người dân đã sống sót sau cơn bão lửa!

BÔNG LAU 16.10.2026

Nguồn: https://thuymyrfi.blogspot.com/2026/10/bong-lau-loc-ia-su-ghi-chien-tich.html#more

Monday, 19 October 2026

Món Nợ Không Đòi Nhưng Ai Cũng Trả

 

Đời sống ở hải ngoại, hầu như ai cũng phải có nợ. Tuy nhiên, có môt loại nợ kỳ lạ, không ngân hàng nào cho mượn, không hợp đồng nợ nào ký kết, không ai gửi giấy đòi nợ mỗi tháng, nhưng gần như ai cũng đang âm thầm trả góp cho nó mỗi ngày.

Cái bẫy: người khán giả vô hình

Đó là món nợ với những người mà ta thậm chí có thể không quen biết, không bao giờ gặp lại lần thứ hai, nhưng vẫn tiêu tiền để gây ấn tượng với họ. Một chiếc xe đời mới hơn một chút so với hàng xóm. Một chuyến du lịch được chụp ảnh đăng lên đúng lúc bạn bè đang lướt điện thoại. Một chiếc đồng hồ đeo tay đắt tiền, không phải để xem giờ chính xác hơn, mà để người đối diện trong buổi họp nhận ra nó ngay từ cái liếc mắt đầu tiên. Tất cả những khoản chi đó đều có một đặc điểm chung đáng suy ngẫm: chúng không thực sự phục vụ người tiêu tiền, chúng phục vụ hình ảnh của người tiêu tiền trong mắt một khán giả vô hình, thường là những người xa lạ, những người mà xét cho cùng, cũng chẳng bận tâm nhiều đến cuộc đời ta như ta tưởng.

Để hiểu vì sao cái bẫy này lại mạnh mẽ và khó thoát ra đến vậy, cần nhìn kỹ vào cơ chế vận hành phía sau nó, một cơ chế mà các nhà tâm lý học từng đặt tên rất hình tượng, máy chạy bộ khoái lạc. Hình dung một người đang chạy trên máy chạy bộ trong phòng gym, càng chạy nhanh, sàn máy càng lùi nhanh tương ứng, để người chạy vĩnh viễn đứng nguyên tại chỗ dù đã đổ bao nhiêu mồ hôi. Đời sống vật chất của con người vận hành theo đúng nguyên lý đó. Khi thu nhập tăng lên, tiêu chuẩn sống cũng tự động dịch chuyển lên theo gần như cùng một tốc độ, khiến cảm giác chủ quan về mức độ đủ đầy hầu như không bao giờ thay đổi, dù con số tuyệt đối trên tài khoản đã lớn hơn rất nhiều so với mười năm trước.

Kẻ thù: người chỉ hơn mình một chút

Điều thú vị và cũng đáng lo ngại nhất về cơ chế so sánh này nằm ở việc con người hiếm khi so sánh mình với những người ở đẳng cấp hoàn toàn khác biệt. Một nhân viên văn phòng bình thường hiếm khi cảm thấy ghen tị hay thua kém khi nhìn thấy hình ảnh một tỷ phú công nghệ trên báo, vì khoảng cách quá xa đến mức trở nên trừu tượng, gần như không có thật, giống như so sánh bản thân với một nhân vật trong phim. Nhưng người đó lại có thể mất ngủ cả đêm chỉ vì biết được đồng nghiệp ngồi bàn kế bên vừa đổi xe mới, hoặc người bạn học chung cấp ba ngày xưa vừa khoe ảnh ngôi nhà vừa mua. Kẻ thù thực sự của sự bình an tài chính không phải là người giàu có vượt trội, mà chính là người ở ngay cạnh mình, người hơn mình một chút, đủ gần để việc so sánh trở nên có ý nghĩa, đủ gần để khoảng cách đó cảm giác như có thể thu hẹp được nếu mình cố gắng thêm một chút, chi tiêu thêm một chút.

Chính vì kẻ thù so sánh luôn ở tầm rất gần như vậy, nên đích đến của cuộc chạy đua không bao giờ cố định. Giả sử một người đặt mục tiêu, khi nào thu nhập đạt đến một con số cụ thể, mình sẽ cảm thấy thỏa mãn và ngừng chạy theo vật chất. Nhưng đến khi con số đó thực sự đạt được, vòng tròn xã hội xung quanh người đó cũng đã dịch chuyển lên một bậc mới, những người bạn, đồng nghiệp mà người đó dùng làm thước đo so sánh giờ đây cũng đã giàu hơn tương ứng, và mục tiêu tưởng như đã chạm tới lại lùi ra xa thêm một bước, y hệt như sàn máy chạy bộ luôn lùi nhanh hơn tốc độ của người đang chạy trên đó. Đây không phải là một trường hợp cá biệt của những người thiếu ý chí hay thiếu kỷ luật tài chính, đây là một đặc điểm mang tính cấu trúc của chính cách bộ não con người xử lý khái niệm ĐỦ, một khái niệm luôn được định nghĩa tương đối theo hoàn cảnh xung quanh, chứ hiếm khi được định nghĩa tuyệt đối theo một con số cố định. Có vậy người xưa mới khuyên: tri túc tiện túc hà thời túc.

Tiêu tiền: trả lãi cho người dưng

Từ nhận thức về cái máy chạy bộ khoái lạc, có thể đi thêm một bước để đặt tên chính xác hơn cho hành vi tiêu tiền theo kiểu này: đó là một hình thức trả một món nợ xã hội, dù không ai chính thức lập ra khoản vay đó cả. Mỗi lần một người tiêu tiền chỉ để tạo ấn tượng với người khác, thực chất người đó đang tự nguyện gánh lấy trách nhiệm duy trì một hình ảnh trong mắt người khác, một trách nhiệm không hề mang lại lợi ích thiết thực nào cho chính họ, ngoài cảm giác thỏa mãn rất ngắn ngủi ngay tại thời điểm khoe ra món đồ đó.

Điều trớ trêu nhất của loại nợ này nằm ở chỗ chủ nợ thực sự, tức là những người xa lạ mà ta đang cố gây ấn tượng, gần như không hề bận tâm đến khoản nợ này như ta tưởng. Một người có thể trầm trồ trong ba giây khi nhìn thấy chiếc xe mới của đồng nghiệp, nhưng ngay sau đó lại quay về lo lắng cho chính vấn đề tài chính của bản thân họ, hoàn toàn quên bẵng chiếc xe kia chỉ vài phút sau. Con người, nói chung, bận tâm đến bản thân mình nhiều hơn rất nhiều so với mức họ bận tâm đến người khác, dù ai cũng có xu hướng tưởng tượng ngược lại, tưởng rằng cả thế giới đang dõi theo và đánh giá từng lựa chọn tiêu dùng của mình. Nghịch lý ở đây rất rõ ràng và cũng rất đáng buồn: người ta bỏ ra một khoản tiền thật, đôi khi rất lớn, đôi khi phải vay mượn để có được, chỉ để mua lấy một ấn tượng tồn tại trong đầu người khác chỉ vài giây, một ấn tượng mà bản thân người khác đó cũng sẽ sớm quên đi để quay lại lo cho chính đời sống của họ.

Trong khi đó, cái giá thực sự phải trả cho khoản nợ xã hội này lại rất cụ thể và kéo dài: đó là thời gian phải làm việc thêm để trả góp, là quyền tự chủ bị thu hẹp lại vì gánh nặng tài chính, là những lựa chọn nghề nghiệp hay lối sống bị bó buộc bởi việc phải duy trì một mức chi tiêu đã lỡ nâng lên. Nói cách khác, người tiêu tiền đang đánh đổi một thứ tài sản có thật và bền vững, thời gian và quyền tự do lựa chọn của chính đời mình, để lấy về một thứ hoàn toàn ảo và chóng tàn, một ấn tượng thoáng qua trong mắt người không thực sự quan tâm. Đây là một phi vụ trao đổi mà nếu nhìn thẳng vào bản chất, phần lớn mọi người sẽ không bao giờ chấp nhận, nhưng vì nó diễn ra âm thầm, từng khoản nhỏ một, từng lần mua sắm một, nên rất ít người có cơ hội dừng lại để nhìn thấy tổng thể của phi vụ đó.

Lối thoát: thay đổi đối tượng phục vụ

Điều đáng nói ở đây không phải là một lời kêu gọi sống khổ hạnh, từ chối mọi tiện nghi, sống như một tu sĩ để tránh xa cám dỗ vật chất. Vấn đề không nằm ở việc tiêu tiền, mà nằm ở việc tiêu tiền cho ai.

Có một sự phân biệt rất quan trọng giữa việc chi tiền để mua lại thời gian và quyền tự chủ cho chính bản thân mình, so với việc chi tiền để mua lấy một ánh nhìn ngưỡng mộ thoáng qua từ người lạ. Cùng một số tiền, nếu dùng để trả cho một dịch vụ giúp tiết kiệm thời gian, thuê người dọn dẹp nhà cửa để có thêm vài giờ rảnh rỗi bên gia đình, hoặc đầu tư vào việc học một kỹ năng giúp công việc hiệu quả hơn, sẽ mang lại giá trị tích lũy lâu dài, càng dùng càng thấy đáng, vì nó phục vụ trực tiếp cho chất lượng sống thật của người tiêu tiền. Ngược lại, nếu dùng đúng số tiền đó để mua một món đồ chỉ vì sợ bị đánh giá là kém sang trọng hơn người khác, giá trị của nó tan biến gần như ngay lập tức sau khoảnh khắc phô diễn ban đầu, và người tiêu tiền lại phải tìm một món đồ mới, đắt hơn, để duy trì cùng một cảm giác thỏa mãn nhất thời đó, một vòng lặp không có điểm dừng.

Câu hỏi thực sự đáng đặt ra trước mỗi quyết định chi tiêu lớn, vì vậy, không phải là mình có đủ khả năng chi trả hay không, mà là khoản chi này đang mua lại thời gian và quyền tự chủ cho chính mình, hay đang âm thầm trả lãi cho một món nợ xã hội mà không ai thực sự đòi mình phải gánh.

Tiền bạc: hai cái bẫy đối xứng

Từ chỗ hiểu rõ cái bẫy so sánh và nợ xã hội, cần tiến thêm một bước để nhìn vào chính bản chất của tiền bạc, ở đây lộ ra một cặp sai lầm tưởng như trái ngược nhau hoàn toàn nhưng thực chất lại có chung một gốc rễ.

Sai lầm thứ nhất là tin rằng tiền bạc có thể giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống, chỉ cần đủ giàu, mọi lo âu, mọi bất hạnh, mọi khiếm khuyết trong các mối quan hệ sẽ tự động tan biến.

Sai lầm thứ hai, tưởng như đối lập hoàn toàn, lại là việc coi tiền bạc như một thứ gì đó xấu xa, dơ bẩn, đối lập với đời sống tinh thần cao quý, và vì vậy né tránh việc suy nghĩ nghiêm túc, có chiến lược về tiền bạc, xem việc quan tâm đến tài chính là một dấu hiệu của sự tầm thường hóa tâm hồn.

Cả hai thái cực này, dù nhìn bề ngoài có vẻ đối lập, thực chất đều mắc chung một lỗi nhận thức: gán cho tiền bạc một sức mạnh đạo đức mà bản thân nó không hề có. Người tin tiền giải quyết mọi vấn đề đang trao cho tiền một quyền năng gần như thần thánh, đủ sức chữa lành mọi vết thương tâm lý, mọi rạn nứt trong quan hệ, điều mà thực tế qua bao câu chuyện của những người cực kỳ giàu có vẫn cho thấy hoàn toàn không đúng. Người coi tiền là xấu xa lại đang trao cho tiền một sức mạnh hủy hoại tương đương, tin rằng bản thân đồng tiền có khả năng làm tha hóa nhân cách con người, trong khi thực chất tiền bạc, tự nó, chỉ là một công cụ trung tính, giống như một chiếc búa có thể dùng để xây nhà hoặc để đập phá, sức mạnh đạo đức nằm ở người cầm nó và cách người đó sử dụng, chứ không nằm sẵn trong bản chất của chiếc búa.

Giá trị thực sự và khiêm tốn hơn nhiều của tiền bạc, nằm ở đúng hai chức năng cụ thể mà nó có thể mang lại: khả năng mua lại sự độc lập, tức là quyền được lựa chọn cách mình sử dụng thời gian của chính mình, không phải bắt buộc làm một công việc mình chán ghét chỉ vì áp lực tài chính, và khả năng mang lại một cảm giác an ổn, tức là không phải sống trong nỗi lo thường trực về những rủi ro bất ngờ của cuộc sống, một trận ốm đau, một khoảng thời gian mất việc, một sự cố ngoài dự tính. Chỉ cần vậy thôi.

Tiền bạc không hứa hẹn sẽ mang lại một cuộc hôn nhân hạnh phúc, không hứa hẹn sẽ chữa lành một tuổi thơ tổn thương, không hứa hẹn sẽ khiến một người vốn có tính cách bi quan bỗng trở nên lạc quan. Nhưng nó cũng không hề là thứ khiến người ta trở nên xấu xa nếu bản thân người đó vốn đã có một hệ giá trị đạo đức vững vàng từ trước. Nhận ra được giới hạn khiêm tốn nhưng có thật này của tiền bạc, chính là cách để không rơi vào bất cứ thái cực nào trong hai thái cực nguy hiểm kể trên, không thần thánh hóa nó, cũng không quỷ dữ hóa nó, chỉ đơn giản coi nó là một công cụ hữu ích trong đúng phạm vi mà nó thực sự có tác dụng.

15 bậc thang đi làm chủ đời mình

Nếu đã xác định được giá trị cốt lõi của tiền bạc nằm ở sự độc lập và cảm giác an ổn, câu hỏi tiếp theo tự nhiên nảy sinh: vậy sự độc lập đó được xây dựng như thế nào, có thể đo lường được không, hay chỉ là một khái niệm mơ hồ, tùy cảm tính mỗi người. Đây chính là lúc một cách chia nhỏ sự tự do tài chính thành nhiều cấp độ tăng dần trở nên hữu ích, vì nó biến một khái niệm trừu tượng thành một hành trình có thể hình dung, có thể theo dõi từng bước tiến, thay vì một đích đến xa vời, mơ hồ, khiến người ta dễ nản lòng ngay từ đầu.

Cách chia này bao gồm mười lăm bậc thang, đi từ mức độ khởi điểm khiêm tốn nhất, nơi một người chỉ vừa đủ trang trải các chi phí thiết yếu hàng tháng mà không phải vay mượn, cho đến bậc thang cao nhất, nơi một người hoàn toàn làm chủ được thời gian của chính mình, không còn bất cứ ràng buộc tài chính nào bắt buộc họ phải dành thời gian cho những việc họ không mong muốn. Điều đáng chú ý và cũng là điểm cốt lõi nhất của toàn bộ cách phân chia này nằm ở chỗ, phần lớn giá trị thực sự, phần lớn sự gia tăng về hạnh phúc và cảm giác an tâm, không nằm ở những bậc thang cao nhất, những bậc thang gắn liền với sự sang trọng, xa hoa, mà tập trung nhiều nhất ở những bậc thang giữa, những bậc thang đánh dấu việc một người dần dần giành lại quyền kiểm soát thời gian và các lựa chọn trong đời sống hàng ngày của mình.

Sự khác biệt giữa việc không có đủ tiền trang trải sinh hoạt phí và việc có một khoản dự phòng đủ để không phải hoảng loạn khi xe hỏng hay ốm đau bất ngờ, là một bước nhảy vọt khổng lồ về chất lượng sống, mang lại một cảm giác an tâm hoàn toàn khác biệt. Nhưng sự khác biệt giữa việc sở hữu một chiếc xe sang loại vừa phải và một chiếc xe sang cao cấp hơn, giữa một căn nhà đã rất đầy đủ tiện nghi và một căn nhà rộng hơn nữa với hồ bơi riêng, lại không mang lại một bước nhảy vọt tương xứng nào về cảm giác hạnh phúc chủ quan, dù khoảng cách về số tiền bỏ ra giữa hai lựa chọn sau này thường lớn hơn rất nhiều so với khoảng cách ở những bậc thang đầu.

Đây chính là bằng chứng cụ thể, được sắp xếp thành từng bậc rõ ràng, cho quy luật đã được nhắc tới ở phần đầu, giá trị của tiền bạc không tăng tuyến tính theo số lượng, nó tăng rất nhanh ở những bậc thấp, nơi tiền bạc giải quyết những nhu cầu thiết yếu và mang lại sự an toàn cơ bản, rồi tăng chậm dần, thậm chí gần như đi ngang, ở những bậc cao, nơi tiền bạc chỉ còn mang lại sự khác biệt về mức độ xa hoa chứ không còn mang lại sự khác biệt về mức độ tự do thực chất.

Nhìn theo cách chia mười lăm bậc thang này, mục tiêu tài chính hợp lý nhất cho phần lớn mọi người, vì vậy, không nên cố gắng leo lên bậc thang cao nhất bằng mọi giá, mà nên là xác định rõ ràng bậc thang nào thực sự mang lại sự thay đổi có ý nghĩa cho quyền tự chủ và cảm giác an ổn của riêng mình, rồi tập trung mọi nguồn lực để đạt tới đúng bậc thang đó một cách vững chắc, thay vì mải mê chạy theo những bậc thang cao hơn chỉ vì đó là hướng đi mà xã hội xung quanh ngầm định là nên làm.

Ba mảnh, một hướng

Nhìn lại cả ba phần vừa trình bày, có thể thấy chúng không đứng tách biệt mà thực chất đang bổ sung cho nhau theo một trình tự rất logic. Phần đầu tiên chỉ ra căn bệnh, cơ chế so sánh không có điểm dừng khiến con người liên tục tiêu tiền để trả một món nợ xã hội vô hình, đổi lấy ấn tượng thoáng qua trong mắt người lạ bằng chính thời gian và quyền tự chủ quý giá của bản thân. Phần thứ hai làm rõ thêm gốc rễ của căn bệnh đó, một sự ngộ nhận về bản chất của tiền bạc, hoặc thổi phồng nó thành vị cứu tinh vạn năng, hoặc hạ thấp nó thành cội nguồn của mọi xấu xa, cả hai đều khiến người ta không nhìn thấy giá trị thực sự, khiêm tốn nhưng bền vững của tiền bạc nằm ở việc mua lại sự độc lập và an ổn. Phần thứ ba đưa ra một phương thuốc cụ thể, một tấm bản đồ chia nhỏ hành trình tự do tài chính thành nhiều bậc thang, giúp người đọc nhận ra phần lớn giá trị nằm ở những bậc thang giữa, gắn liền với quyền kiểm soát thời gian, chứ không nằm ở những bậc thang cao nhất, gắn liền với sự phô trương.

Ba mảnh ghép này, đặt cạnh nhau, vẽ nên một con đường khá rõ ràng để thoát khỏi cỗ máy chạy bộ khoái lạc đã được nhắc tới ngay từ đầu. Muốn bước xuống khỏi cỗ máy đó, trước tiên cần nhận diện được lúc nào mình đang tiêu tiền để trả nợ cho ánh nhìn của người lạ, thay vì phục vụ chính mình. Sau đó, cần đặt tiền bạc về đúng vị trí khiêm tốn của nó, không thần thánh hóa, không quỷ dữ hóa, chỉ xem nó như một công cụ để mua sự độc lập và an ổn. Và cuối cùng, cần biết chính xác mình đang ở bậc thang nào trong hành trình tự do tài chính, để dồn sức đúng chỗ, thay vì cố sức leo lên những bậc thang cao vời vợi mà giá trị thực chất mang lại lại chẳng còn bao nhiêu so với công sức bỏ ra.

Điều sau cùng đáng suy ngẫm là cả ba phần này, dù nói về tiền bạc, thực chất đều đang nói về cùng một thứ tài sản quý giá hơn cả tiền bạc, đó là thời gian và quyền được tự mình quyết định cách sử dụng nó. Người tiêu tiền để trả nợ xã hội đang đánh mất thời gian. Người ngộ nhận về sức mạnh của tiền bạc, dù theo hướng nào, cũng đang lãng phí thời gian để chạy theo một ảo tưởng. Còn người hiểu rõ các bậc thang tự do tài chính, biết mình cần dừng lại ở đâu là đủ, chính là người đang giành lại được nhiều thời gian nhất cho chính cuộc đời mình, và suy cho cùng, đó mới chính là thứ tài sản duy nhất mà không một khoản tiền nào, dù lớn đến đâu, có thể mua lại được một khi đã mất đi. Thời gian là bảo vật quí nhất của đời người thường bị lơ là hoặc phung phí.

Ngu Yên

Nguồn: https://vietbao.com/a326638/mon-no-khong-doi-nhung-ai-cung-tra


Sunday, 18 October 2026

Qua Những Trại Tù ĐẬP TRÀN SÔNG LŨY

 

Với người tù cải tạo, cộng sản không bao giờ để cho nhóm nào được ở chung, giam chung quá lâu. Chỗ giam thay đổi theo cách tính toán sao cho người tù cải tạo mau đến đường cùng của sức khỏe, niềm tin và hy vọng. Mặt khác, chúng lại luôn hứa hẹn. Trước khi đi lao động ở chỗ khác chúng tôi được cho biết là cố gắng lao động tốt sau 3 năm sẽ được cho về. Vì vậy niềm hy vọng dù mong manh nhưng phía trước có mục tiêu để mà hướng tới thì cũng đỡ hơn cứ lao mình như con thiêu thân không có mục đích, thôi thì cứ tin tưởng ngày về đã gần kề để mà hy vọng. Cộng sản có tiếng là láo khoét, nói một đường làm một nẻo, nhưng lần này chúng tôi hết đường lựa chọn. Một số ít trong đó có anh Ngô Trúc Khánh và những anh em bị cho là ác ôn bị đưa lên Giếng Triềng khai phá đất hoang làm ruộng lấy gạo nuôi toán làm Đập Tràn Sông Lũy.
Sau khi ăn Tết năm 1976 xong vài ngày, số đông rời vị trí đóng quân đi ngược dọc con Sông Lũy lên đầu nguồn, theo tôi biết thì đi khoảng 2 giờ nữa là đến Cà Lon một buông lớn của người Thượng. Qua đêm ở trong rừng vì đi lạc đường, không biết tay nào dẫn đường mà tệ thiệt, ngày hôm sau quay ngược đến vị trí đóng quân nằm bên bờ sông Lũy cách chỗ làm con đập tràn chừng 500 mét. Chúng tôi mới biết nhiệm vụ mới là làm con đập tràn trên thượng nguồn Sông Lũy, và đào con mương dẫn nước về tưới cho cánh đồng Bông Vải Lương Sơn. BCH trại chỉ cho chúng tôi một ngày để làm chỗ ở, mỗi tổ mười hai người làm một lán để trú nắng che mưa, lán làm bằng cây rừng và nẹp giường bện bằng tre, mái lợp bằng lá buông, được cái vùng này lá buông rất nhiều nên chặt về lợp rất nhanh. May mà chúng tôi đã qua thời gian làm việc nặng nhọc đã quen, chân cứng đá mềm mới làm kịp.
Cán bộ Thủy lợi Đoàn 8 chịu trách nhiệm thiết kế, đo đạc, tù cải tạo chịu trách nhiệm thi công. Do việc khảo sát địa chất vùng này được thực hiện vội vã, và do sự bất tài của kỹ sư thiết kế dự án nên khi đào mương chúng tôi gặp phải lớp đá cứng nằm dưới mặt đất chừng một mét. Đất vùng này có pha sỏi nên kết cấu không bền vững, nên khi dùng loại đất này đắp bờ mương thì nước thấm qua và dễ làm vỡ chỗ bồi đắp. Không thể nào đào bằng dụng cụ thông thường và bằng sức người, nên Quân Khu 6 tại Đà Nẵng phải cung cấp chất nổ để chúng tôi đánh đá để đào mương, làm kéo dài thời gian và không hoàn thành được tốt như quy định.
Vì nhu cầu nên trại cho thành lập toán đục đá gồm ba chục người được tuyển chọn từ những người khỏe mạnh nhất, đa số là anh em được lựa chọn qua quá trình làm đập có sức khoẻ tốt, quản giáo Tùng không biết sao lại chỉ định tôi làm Tổ Trưởng tổ Đục đá để đánh chất nổ .Khẩu phần ăn cho tổ này được tăng lên từ 500gr lên 700gr gạo trắng ngày, tiêu chuẩn cao nhất . Toán rèn của Trại phải đáp ứng mọi yêu cầu của toán . Hằng ngày chúng tôi phải dùng búa, choàng đục vào đá những lỗ sâu ít nhất 3 tấc, rộng bằng miệng cái tô, rồi đi lãnh một bao bố chất nổ loại bột của Trung cộng đổ xuống, bộ đội sẽ mang ngòi nổ tới đánh sau đó .Công việc vô cùng nặng nhọc, chờ họ đánh chất nổ xong toán đục đá mới được ra về .
Khoảng ba tháng sau con đập bằng đá được ràng bằng rọ kẽm gai đã làm xong nhưng nước thì cứ rò rỉ tuôn ào ào dưới chân đập, không giữ được nước, mang tiếng đập tràn nhưng nước không tràn qua mặt đập được. Ngày khánh thành con Đập đã đến, các kỹ sư trách nhiệm bí quá không biết giải quyết ra sao đành phải hỏi ý kiến chúng tôi xin giúp đỡ. Sau khi thảo luận tìm nguyên nhân chúng tôi giải quyết trong một đêm bằng cách sử dụng 200 người lặn xuống đáy đập dùng đá nhỏ chèn lại các lỗ rò rỉ, nước tràn qua đập thật đẹp như một dải lụa trắng với âm thanh ầm ầm của nước vỗ vào vỉa đá bên dưới.
Ngày hôm sau Đại tá Sư Trưởng đến khánh thành đập, chúng tôi được nghỉ một ngày và ăn bận chỉnh tề đón Sư Trưởng. Đến giờ Sư Trưởng đến, hắn ta đọc bài diễn văn dài lê thê, hết lời tán dương Đoàn 8 nhưng quên nhắc đến công lao đám tù cải tạo đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt thậm chí cả máu để hoàn thành đúng kỳ hạn con đập, và đám tù đang đứng xếp hàng đón chào trước mắt, hình như hắn ta coi như chuyện tù cải tạo làm lao động trên công trường là chuyện đương nhiên. Tối đó chúng tôi được xem văn công của VC trình diễn, thật khác với với ca sỹ của VNCH . Giống y như nghe trên Đài Phát Thanh Hà Nội, những giọng ca cao vút như chim theo nhịp điệu của Trung quốc mang hơi hám rừng rú, thú thật chả biết bọn chúng hát cái gì, quanh đi quẩn lại chỉ các bài : Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây – Tiếng Chày Trên Sóc Bombo, Tiếng Đàn Ta Lư ....chả có hay ho gì, chỉ thấy lạ tai vì nghe chúng gầm rú .
Mặc dù chúng tôi đã có nhiều sáng kiến như chế tạo cần cẩu theo nguyên tắc đòn bẫy để chuyển đá nặng vài trăm ký từ độ sâu bốn mét lên mặt đất dễ dàng bớt cực nhọc, và năng xuất tăng rất cao khỏi phải dùng nhiều chất nổ, nhưng vì mương nằm trên vỉa đá, nên đến giờ này Đập thì làm xong nhưng mương không hoàn thành được. Uổng công cho chúng tôi đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, công sức, đúng với câu “nước sông công tù”. Sau này khi được về nhà, tôi được biết thêm tin tức về con đập này. Chính quyền địa phương trong mấy năm liên tiếp đã điều động vài ngàn dân công từ xã Sông Lũy, Lương Sơn lên đào tiếp con mương mà chúng tôi đào còn dang dở, nhưng không tài nào đào nổi vì lớp đá bên dưới. Công trình tốn kém bao mồ hôi công sức bị bỏ hoang phế đến bao giờ mới tiếp tục được cho dân trong vùng được nhờ.
Gần đó đám Thanh Niên Xung Phong được điều lên đây làm không được đành bó tay. Các em than thở là bị bắt buộc đi Thanh Niên Xung Phong. Một số lớn đã trốn về nhà vì không chịu nổi công việc nặng nhọc và cái nắng nóng như thiêu như đốt. Buổi trưa nắng như đổ lửa vì đất và đá bị nung lên bốc hơi nóng khủng khiếp.
Đoàn quay phim của nhà nước lên quay đám Thanh niên Xung phong này về làm phim tài liệu tuyên truyền, nhưng có khúc mương nào mà đám Thanh niên Xung phong làm ra hồn, nên tới mượn chỗ chúng tôi làm để quay về chiếu trên truyền hình để tuyên truyền. Tù Cải Tạo thì VC bắt trốn kỹ vào rừng trong thời gian quay phim, dụng cụ dùng để bẩy đá từ dưới mương sâu lên, các em không biết sử dụng chúng tôi phải hướng dẫn cách làm, thật xảo trá hết chỗ chê cho cái trò hề tuyên truyền bẩn thỉu. Trò lừa dối nhân dân như vậy, cho tới nay đã hơn 40 năm rồi vẫn y như cũng y như ngày nào.
Thấm thoát Tết lại đến, Tết này là Tết thứ ba mà anh em Tù Cải Tạo còn trong cảnh đọa đày. Hơn 9 tháng chúng tôi không được thăm nuôi, lại làm việc trong điều kiện quá tồi tệ. Ngày thì nắng cháy da người, đêm thì lạnh buốt xương, ăn uống đói khát, nên ai nấy đều hốc hác thấy rõ, có lần phải ăn củ nần bị trúng độc xém chết cả đội .
Để chuẩn bị ăn Tết, BCH trại cho được thăm nuôi, để thân nhân tiếp tế thực phẩm cho tù cải tạo có thêm thực phẩm ăn có sức cày tiếp. Ngày thăm nuôi thật rộn rịp, bên bãi cỏ gần bờ sông, từng gia đình quây quần trên bãi cỏ ăn cơm. Một anh bạn Đại úy tôi không nhớ rõ tên đã viết một lá thư lén trao cho vợ gởi về cho mẹ bị cán bộ Quản giáo bắt được .
Tối đến bức thư được đem ra đọc cho toàn trại nghe, nội dung bức thư chẳng có gì là chống phá cách mạng nhưng Quản giáo bắt phải phê phán sao dám nói xấu cách mạng, vì lâu quá nên tôi chỉ nhớ đại ý nội dung thư . Đầu thư là gởi lời thăm gia đình sau đó có đoạn viết than thở về sự cực khổ ở đây, đồng thời cho biết là có hy vọng là sẽ được về nay mai . Trong thơ có đoạn viết :
“Đêm thì trăng sao, ngày thì nắng dọi. Con nay đã ở cuối đường hầm, đã thấy vài tia sáng le lói ở cuối đường, mẹ an tâm ngày về của con không còn bao lâu nữa..”, chỉ có vậy thôi mà đã cho là bôi bác cách mạng. Cả đám tù như lặng câm, cảm thấy bị xúc phạm nặng nề, ngồi im lặng và càng thấm thía cho kiếp tù, giận thay lũ VC ngu xuẩn, đem cảm xúc ý nghĩ thành thật của một tù nhân ra làm trò đùa. Bức thư này được cho là phản động, nên bắt anh phải kiểm điểm nhận lỗi .
Ngoài ra Đại úy Thiết Giáp viết “Huyết Lệ Ký” gởi cho con gái mới sinh năm 1975 là Tôn Nữ Đan Huyền, nhắn nhủ con gái không được lấy chồng là nón cối, và gọi Bắc cộng là bọn nó, bị Ban Quản Giáo cho là tên cực kỳ phản động .
Tết năm đó ăn tết trong buồn tẻ, chúng tôi chặt vài cụm mai rừng đang ra búp về cắm trong những cái thùng chôn giữa sân, hàng ngày ngồi trên sạp tre nhìn hoa nở để nhớ lại hương vị của ngày Xuân . Mai rừng nở rộ tô điểm cho rừng hoang thêm sắc màu, nhưng lòng người càng ảm đạm vì nhớ vợ con đang nheo nhóc ở nhà. Càng ngày con mương dài ra và gặp toàn đá, công trình bị châm lại, không biết bao giờ mới xong. Sau Tết, hơn 200 tù cải tạo được về.
Rồi VC ra lệnh tất cả tù cải tạo rút về Hàm Trí. Các anh em làm ruộng ở Giếng Triềng cũng tụ hết về đây. Sau này mới biết tụi Miên đánh phá dọc kinh Vĩnh Tế, Tây Ninh. Chiến tranh sắp nổ ra nên lính VC chuẩn bị đem quân đối phó, thôi không làm kinh tế nữa.
HÀM TRÍ LONG HOA
Ngay trước đồn NORA Long Hoa có con đường đất nối liền QL 1 với Hàm Trí chừng 3km. Vùng này khô cằn, đất đai không được màu mỡ, cách chỗ trại đóng chừng 2 km mới có vài ngôi nhà và có một giếng nước ở khu đất trủng. Trong phạm vi trại có con suối cạn chảy qua. Khi có mưa thì có nước hết mưa thì khô cạn. Chúng tôi phải làm đập chận nước lại mà phải đào giếng dưới lòng suối cũng không có nước .
Trại A ở cách trại B + C một quãng đường ngắn, nhưng ít khi thấy nhau. Hai trại được rào lại bằng cây rừng cao 3 mét, bởi hai lớp rào cách nhau một mét . Mỗi trại được lệnh phải cất một hội trường lớn lợp tole, hội trường này trại chỉ định đội tôi cất nhưng dụng cụ chỉ có khoảng vài chục cây rựa cùn trong kho thì lấy gì cất đây ? Nhưng lệnh trên xuống thì bằng mọi cách phải làm cho xong . Cuối cùng sau nửa tháng vật lộn hội trường đã cất xong nhưng không có dụng cụ và đinh để đóng tole . BCH trại điều một đội của khối Đại úy ra đồn Nora lấy kẽm gai Concertina về chặt làm đinh. Nên nhớ đồn này vòng rào toàn mìn bẫy, “giải phóng” đã lâu mà chúng cũng không dám dọn sạch thì đủ biết . Sáng hôm đi lấy kẽm gai anh em tù như đi vào cõi chết, đoàn người phải mang theo võng để khiêng người, có thể có người chết vì vòng rào đồn toàn mìn, chúng tôi chỉ cầu mong đừng nghe tiếng nổ nào vọng về từ đồn Nora, may mà không ai có việc gì, ai cũng vui mừng . VC đã coi mạng những người Tù Cải Tạo VNCH không ra gì, còn thua mấy cây đinh!
Tại đây, chúng tôi phá rừng làm rẫy, trồng bắp, cao lương, lúa, đậu phụng, đậu xanh, nuôi trâu bò, heo. Một đội lên rừng lấy gỗ về cưa xẻ thành từng miếng đóng sạp cung cấp cho Quân khu 6 đổi gạo để ăn. Nói chung trại Trung úy và Thiếu úy có phần dễ dãi, bên Đại úy thì bị kềm kẹp một cách tàn độc, nên toàn trại có những cuộc vượt trại xảy ra .
Toán đầu tiên vượt trại là nhóm của Đại úy Nguyễn Văn Ba, Thông Minh Xê, Đặng Phiên, Thông Ngộ ( gồm 4 người ). Sau đó không lâu, nhờ sự giúp sức của gia đình thêm một Đại úy vượt trại thành công, gây tức tối cho BCH trại, nên các anh càng bị kềm kẹp khe khắt hơn. Trung tuần tháng 3/78, một toán Đại úy khoảng 20 anh vai mang ba lô đi ngang qua trại B , gặp lúc chúng tôi đang làm việc sát đường nên hỏi các anh đi đâu đó, các anh cho biết là đi chặt tre. Tôi thấy trong toán có những người tôi quen như Đại úy Nguyễn Văn Ngư, Trần Hữu Thân ....Hôm sau thì nghe tin các anh vượt trại thành công. Riêng Đại úy Ngư trở về Đồng Trên Sông Mao giả làm thầy Chang làm ruộng nuôi gia đình. Vợ anh thường lén lên thăm anh nên có bầu . Gia đình chồng tố giác chị lấy trai, muốn đuổi ra khỏi nhà để cướp tài sản nên chị đành khai thiệt để giữ lại nhà cho chị và con có chỗ nương thân . Không ngờ người anh ruột thịt vì tranh tụng nhà cửa lại tố giác em mình nên anh bị bắt VC bao vây bắt về nhốt tại Đồn Công An Bắc Bình ( tại CK/ Hải Ninh ) năm 1981, khi tôi được thả về nhà hằng tháng phải lên trình diện ở Công An Huyện Bắc Bình, bỗng tôi nghe tiếng kêu Sơn anh Ngư đây, tôi dòm qua lỗ lô cốt thì thấy anh Ngư Đại Đội Trưởng ĐĐ118/ĐPQ cũ của tôi đang vẫy tay trong lỗ châu mai, anh hỏi tôi có thuốc lá thì cho anh xin, tôi quăng cho anh cả gói thuốc và cái hộp quẹt mà không sợ bọn công an truy ra tại sao anh có nó .
Còn Đại úy Trần Hữu Thân sau bao năm trốn tránh tại Sài Gòn đã vượt biên bằng đường bộ sang được Thái Lan, sau qua được Hoa Kỳ định cư gần Philadelphia. Còn hai bạn sau khi chia tay không biết đi về đâu. Trước đó chúng tôi nhận được tin của hai anh Hoàng Văn Bản và Nguyễn Văn Minh vượt trại thành công .
Cuộc vượt trại của trại B Tr/úy xảy ra vào buổi trưa ngày Chúa Nhật, chúng tôi đang nghỉ trưa thì nghe tiếng súng nổ hàng loạt, thì ra một số anh em tù cải tạo nhóm trung úy, lợi dụng lúc đi tắm ngoài mương bỏ trốn, nhưng không biết tại sao kế hoạch bị lộ nên bị VC phục kích bắt khi vừa mới ra khỏi mương nước trước trại trốn đi. Các anh Lê Quang Nồng, Phan Văn Quý, Nguyễn Duy Trác bị bắt tại trận, còn anh Phạm Kim Hoành biệt kích 81 (anh trước đây làm Huấn luyện viên môn Mưu sinh thoát hiểm tại Đồng Bà Thìn) giờ chót anh nghi ngờ sao đó có thể bọn ăngten biết cuộc vượt trại này nên không đi vì thế không bị bắt tại trận, như thế chứng tỏ kế hoạch trốn trại bị bại lộ và ăngten đã báo cáo nên BCT mới tổ chức hốt trọn ổ, anh Phạm Kim Hoành đoán đúng .
Chính Trị Viên Tr/ úy Hồng Thọt, dân Bắc không tìm ra Hoành biệt kích nên hùng hổ vào trại tập hợp toàn thể trại viên điểm danh, may mà tìm thấy anh Hoành còn có mặt tại đội. Ba anh bị trói thúc ké bắt quỳ trước hàng quân nhận những lời sỉ vả và sau đó bị bỏ đói và tra tấn tàn bạo, bị cùm hai chân trong nhà cùm . Lê Quang Nồng bị tên Cảnh vệ Lê Mông người Bắc đá gãy mấy cái ba sườn, chiếc giày của hắn còn dính vào lồng ngực của Nồng, mang chấn thương nặng khi chuyển ra trại A30 Phú Khánh, trước sự chứng kiến của anh Lê Trung Dị đang bị cùm trước đó vì tội đòi cách mạng thi hành “Luật Tù Binh Quốc Tế”, sau đó Lê Quang Nồng đã tự cắt mạch máu tay tự tử nhưng không chết . Các anh bị cùm và tra tấn dã man trên sáu tháng cho đến khi sắp chuyển ra A30 mới được tha khỏi cùm. Được biết Lê Quang Nồng trước đây là một Đại đội trưởng tại Quảng Đức, trên đường di chuyển bằng xe Honda cùng với một Chuẩn úy trung đội trưởng đã bị VC bắt. Người chỉ huy toán VC bắt anh hôm đó (1970) lại chính là Quản giáo Tùng hiện có mặt tại đây. Anh bị bắt làm tù binh tải đạn và đưa ra Bắc nhốt. Anh có một giọng ca truyền cảm, đặc biệt rất hay. Anh được VC đưa từ trại tù về Hà Nội hát trên Đài phát thanh để tuyên truyền. Sau Hiệp định Ba Lê 1973 anh được trao trả tù binh .
Để răn đe rung cây nhát khỉ, BCH trại cho tập họp toàn thể trại viên để nghe lời thú tội của Đại tá Ngô Tấn Nghĩa gởi đến toàn thể Quân Dân Cán Chính Tiểu Khu Bình Thuận. Thật là láo khoét, lúc này Đại tá Nghĩa đã vượt biên được qua Thái Lan sau khi VC “giải phóng” được hơn tháng và đang định cư tại Mỹ, không biết Đại tá Nghĩa nào đây .
Qua giọng nói rè rè nghe không rõ của cái máy thu băng, giọng Đại tá dỏm, kêu gọi tất cả mọi người an tâm học tập. Chính bản thân ông cũng đang được nhà nước khoan hồng cho cải tạo. Một trò hề rẻ tiền như vậy mà chúng cũng nghĩ ra thật trơ trẽn hết chỗ nói. Đại úy Thông Minh Xê, người Thượng vượt trại trước đó về sống ở Buôn Thượng trên Buôn Mê Thuột bị bắt lại đem về cho chúng tôi nhìn mặt để dằn mặt ..
Lúc này Cộng sản VN đã xâm lược Cam Bốt, kế tiếp là Trung Quốc anh em môi hở răng lạnh dạy cho VN Cộng sản một bài học, tháng Giêng 1979. chiếm sáu tỉnh miền Bắc giết không biết bao nhiêu dân lành và lính Bắc Việt . Chúng tôi được lên lớp cho biết bọn Bá quyền Trung Quốc xâm lăng nước ta, không còn tình hữu nghị gắn bó môi hở răng lạnh như trong lúc học tập mà đảng đã rêu rao .
Trước ngày 26 tháng 10 năm 1979 nhằm ngày Quốc Khánh của Đệ nhất Cộng Hòa dưới thời ông Diệm một ngày, không phải ngày Lễ lạc gì của VC thế mà trại làm bò cho ăn, chúng tôi nghĩ chắc có chuyện gì đây, và quả nhiên như vậy. Sáng sớm hôm sau, đúng ngày Quốc Khánh của Đệ Nhất Cộng Hòa, tất cả chúng tôi được lệnh mang toàn bộ hành lý tập trung ngoài sân, và một đoàn xe tải đã có mặt sẵn sàng trên đường đất nhỏ trước trại. Danh sách đọc chia làm 3 nhóm, một trăm người được cho về, 400 đi trại Sông Cái Phan Rang. Số còn lại hơn 600 và toàn bộ trại A Khối Đại úy lên xe ra quốc lộ 1 trực chỉ về hướng Bắc. Với VC, chúng cho đây toàn là thành phần cực kỳ ác ôn còn sót lại sau bao lần “sàng lọc”!
 
 
Cao H Sơn