Friday, 15 May 2026

NÊN ĐỌC ĐỂ BIẾT TỔNG THỐNG HOA KỲ DONALD TRUMP NHƯ THẾ NÀO?

 Trong suốt gần một tháng ở nhà theo dõi tình hình hiện nay, tôi nhận ra một vấn đề mà trước giờ ít để ý tới đó là những bài viết về TT Trump hầu như đều là chê trách, đổ lỗi, rất khó tìm đọc được một bài viết nào có quan điểm tích cực về ông ấy. Ngồi xem live các buổi họp báo từ Toà Bạch Ốc, tôi ngạc nhiên khi nhiều nhà báo đặt những câu hỏi kiểu gài bẫy chờ Trump sơ hở lỡ miệng chỗ nào đó để làm mồi cho truyền thông nhảy vào xâu xé. Những câu hỏi, trả lời được cắt ghép cho những bài viết, những video bình luận tiêu cực đã được lên ý đồ sẵn để định hướng người xem ngập tràn trên YouTube, Facebook…


Thắc mắc với câu hỏi tại sao truyền thông ghét Trump như vậy? Sao nhiều người chửi ông? ông ấy đã làm những gì? Tôi tìm được một phần lớn câu trả lời cho mình qua quyển sách dài của Doug Wead: Inside Trump’s White House. Sách vừa được xuất bản tháng 11 năm 2019.May be an image of the Oval Office


* Doug Wead đã viết hơn ba mươi quyển sách và là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất của New York Times. Wead đã phỏng vấn trực tiếp với sáu đời Tổng thống Mỹ (TT Trump là người thứ 6). Ông cùng là tác giả xuất bản chung một quyển sách với cựu TT George Bush. Ông từng là thành viên cố vấn cấp cao của Tòa Bạch ốc. Ông là một trong rất ít những nhà sử học hiện tại còn sống cùng viết về 44 đời Tổng Thống Mỹ. Đây là quyển sách ông viết về những gì TT Trump đã làm được trong ba năm qua. Với một tiểu sử sự nghiệp nổi bật như vậy, TT Trump đã thật sự đặc biệt như thế nào để nhà sử học Wead viết hẳn một đầu sách về mình?

* Tác giả Wead được TT Trump đồng ý để ông ấy ghi âm lại tất cả những cuộc phỏng vấn giữa ông và Tổng thống cũng như với tất cả thành viên gia đình Trump và các tư vấn cấp cao khác. Đây là một yếu tố giúp Wead tiếp cận nguồn thông tin quan trọng và viết chính xác nhất những gì đang diễn ra. Lịch sử mà chúng ta đã đọc về Washington, Lincoln, Roosevelt, hay Kennedy… đã được ghi lại xác thực ra sao thì giờ đây với Wead, ông ấy cần làm gì để thế hệ sau có thể tiếp cận được nguồn tư liệu đúng nhất về TT Trump? Tất cả sẽ nhờ vào những gì được ghi ngay lúc này và ông ấy muốn mình phải ghi lại sự thật một cách công tâm nhất.

* Lý do gì mà một tỷ phú rất thành đạt trong cả hai lĩnh vực bất động sản và show truyền hình như Trump lại quyết định ra tranh cử Tổng thống. Trump đã gầy dựng lên một thương hiệu nổi bật cho chính mình, rõ ràng ông ấy không cần phải làm tổng thống để được nổi tiếng hay để giàu hơn.

* Khi Wead phỏng vấn các con của Trump, Ivanka, Eric và Don Jr., Wead không ngạc nhiên khi họ kể về những lần nhìn thấy cha họ bực tức xé toạt bài báo khi biết chính phủ Mỹ vừa ký kết một hiệp định nào đó gây bất lợi cho Mỹ. Trump bực tức khi nhìn thấy hàng trăm ngàn công việc ở Mỹ được mang đi nơi khác.

Trump nhìn thấy cái hố mà Mỹ đang từ từ lún xuống vì những ký kết ông thẳng thắn lên tiếng là rất nguy hại cho Mỹ từ những người đi trước (1 lý do bị ghét tơi bời là đây). Những ký kết mà lợi ích chỉ đem lại cho các nước khác từ Trung cộng cho đến Tây Âu, và càng đè gánh nặng lên vai tầng lớp trung lưu Mỹ khi cõng những lợi ích đó qua cái gọi là THUẾ.

* Wead không ngạc nhiên vì sao, vì ông đã từng là thành viên tư vấn cấp cao ở Tòa Bạch Ốc ông hiểu rõ cơ chế đằng sau những ký kết đó, hiểu rõ những nhóm lợi ích đứng sau giật dây, hiểu rõ truyền thông đã bị mua chuộc như phương tiện tuyệt vời để đánh lạc hướng dư luận hay nói nặng hơn thì đó gọi là tẩy não.

Dù từng là cố vấn cấp cao của hai đời Tổng thống Mỹ thuộc đảng Cộng Hòa, Wead nhận định thẳng thắn rằng Tổng thống Mỹ ở cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ít nhiều đều bị chi phối bởi các thế lực ngầm đứng sau, những thế lực có thể ôm trọn truyền thông và bắt nó hoạt động theo ý mình.

Nhưng Trump lại khác, ông ấy đã là tỷ phú, ông không cần tiền của những thế lực đó làm bàn đệm để nhảy lên, ông ấy cũng không cần phải lấy lòng những thế lực đó để dọn đường cho cuộc sống hưởng thụ an nhàn sau khi rời nhiệm kỳ.

* Wead cho rằng là một doanh nhân thành đạt chưa từng bước vào con đường chính trị, ông Trump không bị dẫm vào lối nghĩ gò bó rập khuôn, không bị chui vào những cái hộp được đóng sẵn như các chính trị gia trước đây. Sự giải phóng này giúp ông nhìn rõ “bệnh tình” của nước Mỹ theo một hướng khác và rõ ràng đã có những kế hoạch phù hợp hơn.

Tuy nhiên việc TT Trump từng bước phá vỡ những quy luật bất thành văn trong giới chính trị, gây đe dọa đến những lợi ích nhóm đứng sau đã khiến ông giống như một con sói đầu đàn đơn độc bị cả đàn vây hãm tấn công trong suốt thời gian qua.

Tôi tưởng TT Trump bị truyền thông và giới chính trị gia đánh tơi tả từ khi ông trúng cử nhưng thật sự thì ông đã bị “ném bom” từ khi mở lời ra tranh cử.

* Tìm đọc lại những nguồn thông tin từ Wead ghi trong sách, tôi phải thật sự là nể sự phớt lờ của Trump với cánh truyền thông.
Bất kể phát ngôn nào của Trump cũng bị truyền thông moi móc. Khi Trump nói ông có kế hoạch sẽ mang việc làm về Mỹ, sẽ làm cho kinh tế Mỹ tăng lên, làm cho Mỹ hùng mạnh trở lại….

Cánh nhà báo giật tít chửi rủa, chính trị gia ở cả 2 đảng cười nhạo như “Heo thì làm sao biết bay”; “hắn có cây phép thuật à”; “bí mật ở các kế hoạch của hắn là hắn chả có kế hoạch nào cả”; “Trump đang mơ đấy”… Cả Hollywood, các giới tỷ phú, giới nghiên cứu học thuật đều chống lại Trump.

* Bỏ ngoài tai tất cả những châm biếm, tấn công từ truyền thông, sự chống đối từ đảng đối lập và ngay cả những chính trị gia cùng đảng Cộng Hòa, cả 5 đời cựu Tổng thống Mỹ thời điểm đó đều không chọn Trump, nhưng cuối cùng ông đã thắng trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người khắp nơi.

Đó có phải là may mắn? Wead đã viết lại rất chi tiết về hành trình tranh cử đầy đơn độc và khó khăn của ông Trump. Nhờ đó mà người ta sẽ biết được sự thật TT Trump cùng những người con lớn đã tiếp xúc với các cử tri của mình như thế nào, sẽ biết được sự thật đảng đối lập đã dùng truyền thông đưa sai thông số dự báo về tỉ lệ bầu chọn để làm nhụt chí những người ủng hộ tin rằng Trump sẽ thua ra sao.

* Lý do gì Wisconsin trong suốt 32 năm chỉ bầu cho ứng viên đảng Dân Chủ đã quay qua bỏ phiếu cho Trump.

Ông đã thắng Ohio như thế nào, 1 tiểu bang trong suốt 44 đời Tổng thống qua hễ ứng viên nào chiếm được phiếu bầu thì người đó sẽ thắng cử. Tại sao có những cử tri tự nhận rằng họ đã bỏ phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ cả đời của họ, lý do gì làm họ thay đổi lần bầu cử này.

Làm thế nào Trump dành được phiếu bầu những nơi mà nhà Clinton còn không thèm đến vận động vì tin chắc phần thắng thuộc về mình. Tại sao Florida gần như nắm chắc phần phiếu về cho Hillary Clinton nhưng cuối cùng đã làm cho đảng Dân Chủ ngỡ ngàng ở phút cuối. Rõ ràng đó không phải là may mắn.

* Nếu Wead không viết quyển sách này có lẽ chúng ta sẽ không biết rằng thật sự Mỹ đã gần như có chiến tranh với Triều Tiên ra sao. Khi cựu tổng thống Obama rời nhiệm kỳ, Obama thừa nhận rằng Kim Jong-un sẽ là vấn đề lớn nhất mà ông Trump sẽ phải đối mặt.

Thật thú vị khi đọc đoạn đối thoại của TT Trump và Kim qua cách kể lại từ Wead. Vấn đề Trump nhận ra ở Kim đó là những tên độc tài thường uy hiếp kẻ yếu, không phải kẻ mạnh hơn.

Tuy nhiên ông đã rất cẩn trọng và đã thành công trong việc đàm phán lần thứ nhất với Kim tại Singapore. Chấm dứt việc thử vũ khí hạt nhân, đưa con tin bị bắt giữ, đưa hài cốt lính Mỹ ở Triều Tiên từ cuộc chiến Nam Hàn về Mỹ, một kết quả tuyệt vời mà Wead cho biết phải mất 11 đời Tổng thống để thực hiện.

Hội nghị đàm phán lần thứ hai tại Hà Nội lẽ ra có thể đã có kết quả tốt đẹp nếu như truyền thông Mỹ không cố tình “vạch áo cho người xem lưng”. Tại sao ngay thời điểm quan trọng của việc đàm phán, kênh truyền hình trên màn ảnh tivi được chia ra làm đôi với 1 bên là hình ảnh trực tiếp hội nghị Mỹ-Triều Tiên tại Hà Nội, 1 bên là hình ảnh Hạ viện Mỹ đưa ra những cáo buộc khác về Trump?

Đó chẳng phải là một thông điệp cho cả thế giới biết nội bộ Mỹ đang bị chia cắt sao. Bằng cách nào đó Kim rõ ràng đã nhận ra thông điệp đó.

Trump muốn duy trì hòa bình thế giới ư, hãy quay về giải quyết xung đột nội bộ trong nước trước đi. Đó là kết quả vì sao ở lần đàm phán thứ 2 ông đã không đạt được một thỏa thuận nào với Kim.
* Wead nhìn nhận thật chua xót khi sự thù ghét Trump đã làm cho những người chống đối ông sẵn sàng đạp lên danh dự và lợi ích của nước Mỹ để đạt được mục đích của mình.

Wead viết khi Trump tuyên bố Mỹ rút lui khỏi hiệp định biến đổi khí hậu Paris, giới hoạt động môi trường, truyền thông, đảng đối lập phản đối la ó. Dân chúng phần lớn cũng chửi ông mà không hiểu rõ cái hiệp định đó là về gì.

* Vâng, cái hiệp định ấy là để Mỹ phải tham gia bỏ tiền, đầu tư công nghệ, máy móc để dọn dẹp việc ô nhiễm môi trường của các nước như Trung cộng, Ấn Độ, Nam Phi…… Tiền từ đâu, từ tiền thuế dân Mỹ mà ra cả.

Những người chửi Trump liệu khi biết tiền thuế của mình trước giờ phải cõng luôn cái việc dọn dẹp vệ sinh cho những nước chuyên gây ô nhiễm đó thì có còn muốn la làng lên nữa không?

Khi Obama ký tham gia hiệp định Paris 2016, truyền thông đã không hề nêu rõ nội dung về nó cho dân Mỹ biết, tất cả chỉ được viết ngắn gọn rằng nó tốt cho việc bảo vệ môi trường. Nhờ truyền thông che đậy, Obama lại được thêm lòng dân qua phong cách quí ông lịch lãm biết yêu môi trường. Nhưng sự thật thì Obama đã vi phạm điều lệ Byrd-Hargel Resolution thông qua năm 1997 qui định rằng Mỹ không được ký kết bất cứ hiệp định nào về việc làm sạch môi trường ở các nước đã nêu ở trên mà không kèm theo những quy định bắt buộc những nước đó phải có biện pháp hạn chế việc gây ô nhiễm ở chính nước của mình.

Thế mà khi ông Trump rút lui khỏi hiệp định, nước Mỹ gào lên chửi.
* Wead châm biếm, dường như truyền thông đã nhào nặn thành công một hình tượng Obama bóng láng không tì vết trong lòng hơn một nửa dân chúng Mỹ.

Vì mang danh là anh cả của thế giới, Mỹ phải đang è cổ bao bọc quân sự miễn phí cho các nước Hàn, Nhật, Ả rập, khối NATO… cho tới khi TT Trump đem bàn cân ra đặt lại. Ông cho rằng thật vô lý khi Mỹ phải bỏ ra hàng tỷ mỹ kim để tạo nên những đầu đạn, tên lửa, vũ khí và tặng không cho các nước đang được coi là siêu cường của thế giới.

* Giới ngoại giao, báo chí, tướng tá lại nhao lên lo sợ Mỹ sẽ làm mất lòng các đồng minh Á- Âu. Trump đã thẳng thắn gọi đó là mối quan hệ lợi dụng và giữ vững lập trường của mình. Thông điệp của ông rất rõ:

“Vâng, đồng minh quan trọng nhưng Mỹ vẫn quan trọng hơn”.
Mỹ không thể bị bòn rút như vậy nữa. Đức, Nhật không còn là những nước lụi bại sau chiến tranh.

Rõ ràng hiện nay họ đã là các cường quốc. Hãy nhìn nền kinh tế và sự phát triển của Nam Hàn, Ả Rập xem, đó là những nước nghèo yếu cần bảo vệ miễn phí sao? Với tài thương lượng của mình ông lại thành công trong việc bớt đi một gánh nặng trên lưng tầng lớp trung lưu Mỹ. Không những thế, nhờ Trump mà hệ thống phòng ngự NATO đã trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Về kinh tế, Wead thừa nhận trong vài chục năm qua chưa có đời Tổng thống nào đưa Mỹ đạt được mức tăng trưởng kinh tế tới 4.3 như Trump vào thời điểm Wead kết thúc quyển sách.

* Trump đã làm gì để thay đổi những luật lệ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước từ thời Clinton, Bush và Obama để khiến cho các hãng xưởng dần bốc hơi qua bên kia bán cầu.

Ông đã làm gì để mang các hãng xưởng về lại Mỹ? Là một nhà kinh doanh ông Trump hiểu rõ cái gọi là thương mại tự do hoàn toàn không mang lại lợi ích bằng nhau cho đôi bên, mà đó là cái bẫy bên được bên mất.

Hãy tưởng tượng với 1 hãng xưởng được mở ra tại Trung cộng từ doanh nghiệp Mỹ sẽ đồng nghĩa với việc 1 hãng xưởng tại Mỹ bị đóng đi.

Khi dân Trung cộng có việc làm, dân Mỹ sẽ bị mất việc. Chúng ta tin rằng việc mang việc làm sang những nước có giá nhân công thấp để đổi lại được mua sản phẩm rẻ hơn là điều có lợi cho đôi bên nhưng thật sự đó là cái bẫy.

Ngay lúc này, cái bẫy mà không riêng gì Mỹ mà cả thế giới đang mắc phải đã lộ rõ qua việc thiếu hụt đồ y tế do phụ thuộc vào khâu sản xuất từ nước nào thì mọi người đã biết. Thật tiếc khi TT Trump chưa kịp dẹp hết cái bẫy này thì lại đang bị chỉ trích từ nhiều phía về tình hình hiện tại.

* Vì sao giới học thuật, các trường đại học Mỹ thường ủng hộ cho Dân Chủ?

Vì sao các ứng viên của đảng này luôn mang những vấn đề về súng, về việc xóa hết nợ cho sinh viên, về y tế, về dân nhập cư, về đường lối ngoại giao song phương mềm mỏng… để làm chủ đề chính cho những cuộc vận động tranh cử.

Liệu những vấn đề đó có thật sự tốt như nó được hứa từ các ứng viên.

Liệu nó giúp Mỹ đứng vững hay suy yếu thêm trên đấu trường thế giới.

Đối tượng tầng lớp nào họ đang hướng đến để kiếm được sự ủng hộ.

Tại sao lại trì hoãn ngăn chặn dân nhập cư bất hợp pháp?

Tại sao đảng Dân Chủ đưa ra ý kiến đồng thuận việc cấp bảo hiểm y tế cho dân nhập cư lậu trong cuộc bầu cử sắp tới? (Ôi, lại tiền thuế!)

Liệu có phải di dân lậu từ các nước Nam Mỹ thông qua cửa ngõ Mexico là một nguồn lợi nhuận dồi dào mà chỉ có dân chính trị gia, lợi ích nhóm ngầm thỏa hiệp với nhau mới hiểu rõ?… Hãy đọc và tìm câu trả lời qua lối viết lôi cuốn rõ ràng từ Wead.

Có nhiều những thành tựu khác mà TT Trump đã đạt được chỉ trong hai năm đầu nhiệm kỳ mà Wead phải thừa nhận rằng chưa có đời Tổng Thống gần đây nào đạt được như vậy.

Từ kinh tế, quân sự, đàm phán ngoại giao cho đến giải thoát con tin Mỹ, tiêu diệt khủng bố.. Trump đều hoàn thành nhanh gọn.
Nhưng phần lớn truyền thông và đảng đối lập sẽ không dễ dàng thừa nhận những thành tựu đó.

TT Trump đang là cái gai đã gây tổn thất quá nhiều cho lợi ích nhóm mà họ sẽ phải dùng mọi thủ đoạn để nhổ bỏ đi..

Đó là lý do tại sao phải tạo ra giả thuyết tố cáo Trump đã bắt tay với Nga gian lận trong bầu cử (tốn 40 triệu $ để điều tra từ tiền thuế dân!) Khi không tìm được chứng cớ thì lại tạo ra phiên tòa luận tội vô lý mà kết quả như thế nào thì ai cũng biết rồi.

Chắc chắn ông Trump sẽ còn chịu nhiều chống đối khác cho đến khi đảng đối lập và các nhóm lợi ích đạt được mục đích của họ.
Kết thúc quyển sách của mình, Wead để người đọc tự tìm ra câu trả lời cho tương lai của nước Mỹ qua những con số xác thực, những vấn đề quan trọng ông đã đưa ra phân tích. Liệu những thành quả mà TT Trump đạt được sẽ được người sau tiếp nối hay dẹp bỏ? Wead cho rằng sẽ sớm thôi khi những cuộc tranh cử theo lối mòn cũ trở lại khi ông Trump ra đi, khi các ứng viên Tổng thống được đo ni đóng gót khác trong guồng máy chính trị được đưa lên, khi Mỹ lại dẫm vào những cái bẫy kinh tế ngoại giao khác.

Khi Mỹ đánh mất vị trí số 1 của mình, dân Mỹ sẽ tỉnh giấc nhìn ra sự thật về những việc Trump đã làm luôn hướng đến “America First” như thế nào. Nhưng thật tệ là lúc đó đã quá muộn!

(Ann Nguyễn)

______
Nguồn:
Wead, Doug. Inside Trump’s White House. New York: Center Street, 2019
Fox News Live
———-
Xin lưu ý: tôi viết bài này để truyền tải lại một phần nội dung và giới thiệu quyển sách tác giả Doug Wead đã viết. Xin phép không tranh luận vấn đề yêu hay ghét, đúng hay sai của ông Trump. Nếu thấy phù hợp hãy tìm đọc và share bài viết để nhiều người biết đến quyển sách bán nhiều nhất, và chắc chắn quyển sách sẽ không làm bạn thất vọng.
Ảnh:
Wead in September 2011.
Born Douglas Wead
May 17, 1946 (age 73)
Muncie, Indiana, U.S.
Occupation Writer, political commentator
Political party Republican

http://chinhnghiavietnamconghoa.com/nen-doc-de-biet-tong-thong-hoa-ky-donald-trump-nhu-the-nao-ann-nguyen/

CHUYỆN VỀ NGƯỜI CON TRAI ĐI THEO VIỆT MINH CỦA TỔNG THỐNG VNCH TRẦN VĂN HƯƠNG.

<
KD: Đọc mà thương, không biết nên bình luận gì.
Chỉ biết rằng, chiến tranh luôn là vết cắt vô tình, làm đau, làm nhỏ máu trong lòng những con người mà số phận họ bị cuốn vào…
Khi đọc đến đoạn chia tay mà ông Trần Văn Hương khóc, mình nghẹn ngào.
Nước mắt người cha phía bên kia hẳn xót xa biết bao nhiêu.
Giọt nước mắt hiếm hoi ấy hẳn nói rất nhiều nỗi u uẩn , trớ trêu 
(Ông Trần Văn Hương (1902-1982) là Tổng thống thứ ba của Việt Nam Cộng hòa, nhưng chỉ tại vị trong vòng 7 ngày (từ 21/4/1975 đến 28/4/1975) sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và trước khi bàn giao lại cho Ông Dương Văn Minh.
Ông cũng từng giữ các chức vụ quan trọng khác như Thủ tướng và Phó Tổng thống)
May be an image of text
Có những cuộc chia ly không chỉ là khoảng cách giữa hai con người, mà còn là khoảng cách của cả một thời cuộc.
Câu chuyện của ông Trần Văn Dỏi và người cha của mình, ông Trần Văn Hương, cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, là một câu chuyện như thế.
Một người con đi theo Việt Minh, tham gia kháng chiến, từng có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Một người cha ở lại miền Nam, từng bước bước vào con đường Chính trị, rồi trở thành một trong những nhân vật cao nhất của chính quyền Sài Gòn.
Hai cha con, cùng chung một dòng máu, cùng sinh ra trên một đất nước, nhưng suốt gần 30 năm lại đi trên hai con đường hoàn toàn trái ngược.
Ông Trần Văn Dỏi rời gia đình từ năm 1946 để ra Bắc học Trường Võ bị của Bộ Quốc phòng tại khu Việt Nam học xá.
Khi ấy, ông còn là một thanh niên miền Nam trẻ tuổi, mang theo lý tưởng kháng chiến và niềm tin vào ngày đất nước được độc lập.
Chỉ hai tháng sau, cuộc chiến bảo vệ Hà Nội mùa Đông năm 1946 bùng nổ.
Người thanh niên ấy đã đứng cùng đồng đội miền Bắc trên chiến lũy, làm xạ thủ đại liên bảo vệ khu Việt Nam học xá, chợ Hôm, phố Huế, phố Hàm Long.
Mùa xuân đầu tiên của ông ở Hà Nội không có sự sum họp gia đình, không có tiếng cười ngày Tết, mà là khói lửa chiến trường.
Sau khi rút ra chiến khu, ông tiếp tục được cử đi học Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, rồi chuyển sang lớp Công binh khóa đầu tiên.
Cuối năm 1949, ông được kết nạp Đảng.
Đến năm 1954, ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với nhiệm vụ Đại đội trưởng công binh C.57, Tiểu đoàn 206, thuộc Đại đoàn pháo binh 351.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, khi quân Pháp thất bại và rút khỏi Việt Nam, ông Trần Văn Dỏi đã là đại úy, t
Tiểu đoàn trưởng công binh.
Sau đó, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội, tổng cộng 21 năm mặc áo lính.
Đến năm 1966, sau ba năm học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông chuyển về công tác tại Ban Công nghiệp Trung ương.
Trong khi người con ở miền Bắc đi qua chiến trường, học tập và công tác trong hàng ngũ Cách mạng.
Thì người cha ở miền Nam cũng đi vào một con đường đầy biến động.
Ông Trần Văn Hương vốn là một Thầy giáo dạy Văn chương, quê ở Vĩnh Long.
Sau này, ông rời quê lên Sài Gòn, từng mở tiệm thuốc Tây, rồi tham gia hoạt động c
Chính trị.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông làm Đô trưởng Sài Gòn nhưng từ chức vì bất đồng với ông Ngô Đình Diệm.
Năm 1960, khi đại tá Nguyễn Chánh Thi tiến hành đảo chính, ông Trần Văn Hương ủng hộ với lý do chống lại sự độc đoán của gia đình họ Ngô.
Cuộc đảo chính thất bại, ông Hương cùng nhiều người bị bắt.
Sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông Hương được tái nhiệm Đô trưởng Sài Gòn.
Đến tháng 11 năm 1964, ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu chọn làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân lực.
Về sau, ông tiếp tục giữ các chức vụ cao hơn, từ Phó Tổng thống rồi trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa trong 7 ngày cuối tháng 4 năm 1975, trước khi trao lại quyền cho ông Dương Văn Minh.
Điều éo le là mãi đến năm 1968, qua tin tức trên đài phát thanh Hà Nội, ông Trần Văn Dỏi mới biết cha mình đang giữ chức vụ quan trọng ở chính quyền bên kia vĩ tuyến.
Tin ấy khiến ông trằn trọc nhiều đêm.
Cuối cùng, ông quyết định báo cáo cấp trên.
Trong hồi ký, ông ghi ngày 10 tháng 6 năm 1968, ông nhờ tìm cách gặp ông Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, để báo cáo sự việc.
Ông Khiêm tiếp ông rất thân tình, dặn ông giữ bí mật và cho biết sẽ báo cáo trực tiếp với ông Phạm Văn Đồng và ông Lê Duẩn.
Từ đó, câu chuyện về người cha đặc biệt của ông Trần Văn Dỏi được giữ kín trong phạm vi cần thiết.
Thỉnh thoảng, ông Ung Văn Khiêm lại gọi ông lên hỏi thăm, dặn dò không được nói chuyện này với những người không có trách nhiệm.
Đến tháng 10 năm 1972, Bộ Nội vụ yêu cầu ông viết thư cho cha, báo tin rằng ông vẫn còn sống, đã có vợ con, được học hành và công tác.
Lá thư được gửi đi theo một con đường đặc biệt, nhưng ông không biết cha mình có nhận được hay không, và cũng không bao giờ nhận được hồi âm.
Sau này, khi đất nước thống nhất, ông có hỏi cha về lá thư ấy.
Ông Trần Văn Hương chỉ im lặng.
Có lẽ đó là sự im lặng của một người cha mang quá nhiều điều khó nói với người con từng ở phía bên kia chiến tuyến.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin chính quyền Sài Gòn đầu hàng, ông Trần Văn Dỏi ghi trong hồi ký rằng cả nước vui mừng vì chiến tranh đã kết thúc, hết cảnh mất mát, hết chia ly.
Ông nghĩ rồi đây sẽ được gặp lại người thân, được gặp mẹ sau gần 30 năm xa cách.
Nhưng ông không biết rằng mẹ ông đã qua đời từ ngày 30 tháng 12 năm 1974, chỉ vài tháng trước ngày thống nhất.
Người mẹ ấy đã chờ con suốt gần 30 năm, nhưng cuối cùng không kịp nhìn thấy con trở về.
Sau ngày hòa bình, nhiều người miền Nam tập kết ra Bắc như ông đều mong ngóng ngày hồi hương.
Nhưng vì công tác, ông chưa thể về ngay.
Vợ ông, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung, cũng là người Bến Tre tập kết ra Bắc năm 1954, được về Nam trước cùng con trai.
Khi lần đầu gặp con dâu và cháu nội, ông Trần Văn Hương đã rất xúc động.
Lúc đó ông đã già yếu, bệnh tật nhiều.
Mãi đến tháng 12 năm 1975, ông Trần Văn Dỏi mới được nghỉ phép vào Nam sau 29 năm xa cách.
Trước khi về gặp cha, ông thực hiện chỉ đạo là đến báo cáo với Trung ương Cục.
Trong hồi ký, ông ghi ngày 15 tháng 12 năm 1975, lúc 10 giờ, ông về gặp cha.
Ông thấy cha mình đã già yếu hơn rất nhiều, bệnh tật, dáng vẻ không còn như trong ký ức.
Hai cha con xúc động lắm, nhưng không ai khóc.
Có lẽ nước mắt đã chảy hết vào trong suốt gần 30 năm chia cắt.
Sau đó, ông cùng vợ con đi thăm mộ mẹ.
Bà con hai bên đến thăm chật nhà.
Đặc biệt, ông già vợ của ông Dỏi và ông Trần Văn Hương, hai người sui gia, đến lúc ấy mới được gặp mặt nhau.
Gần 30 năm dâu bể, một gia đình mới thật sự có được bữa sum họp muộn màng.
Tết năm 1976 là cái tết đầu tiên sau gần ba thập kỷ, ông Trần Văn Dỏi được ăn tết cùng cha. Dù cuộc sống khi ấy còn nhiều khó khăn, vợ chồng ông vẫn gói bánh tét, làm mâm cúng mẹ để làm vui lòng người cha già.
Trong bữa cơm, ông Trần Văn Hương vui cười bên con cháu.
Nhưng sau đó, ông lại lặng lẽ bắc ghế ngồi một mình, nhìn ra đường, như đang nghĩ về những năm tháng đã mất, những điều đã qua và những điều không bao giờ còn lấy lại được.
Đến tháng 2 năm 1976, ông Dỏi phải chia tay cha để trở ra Hà Nội.
Lần này, ông Trần Văn Hương không kìm được nước mắt.
Ông sợ rằng tuổi già và bệnh tật sẽ không cho ông thêm cơ hội gặp lại con trai.
Nhưng may mắn thay, từ đó về sau, năm nào ông Dỏi cũng về Nam ăn tết với cha.
Năm 1978, ông Trần Văn Dỏi được ông Lê Đức Thọ gọi lên hỏi thăm tình hình gia đình và tình trạng của ông Trần Văn Hương. Vài ngày sau, ông được tăng hai bậc lương và chuyển hẳn về Nam để có điều kiện chăm sóc cha trong những năm cuối đời.
Trước khi ông Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ông Dỏi cũng đã nghỉ hưu từ năm 1981 để được gần gũi cha nhiều hơn.
Câu chuyện của ông Trần Văn Dỏi và ông Trần Văn Hương không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình
Đó còn là lát cắt rất đặc biệt của lịch sử Việt Nam, nơi chiến tranh đã chia đôi không chỉ đất nước, mà còn chia đôi cả những mái nhà, những tình thân, những phận người.
Một người con ra đi hai bàn tay trắng, trở về khi đất nước liền một dãi.
Một người cha từng đứng ở phía bên kia thời cuộc, cuối đời lại chỉ mong được gặp con, được sống những ngày còn lại trong tình thân gia đình.
Lịch sử có thể ghi tên họ ở hai phía khác nhau, nhưng sau tất cả, giữa họ vẫn là tình cha con. Và có lẽ chính điều đó mới khiến câu chuyện này trở nên xúc động nhất.
(Lịch sử Việt nam
Giai thoại xưa)
https://chinhnghiavietnamconghoa.com/chuyen-ve-nguoi-con-trai-di-theo-viet-minh-cua-tong-thong-vnch-tran-van-huong/

SÀIGÒN MUÔN NĂM CŨ.


Tưởng Niệm Tháng Tư Đen năm nay - 2026, đánh dấu 51 năm mất nước - chính thể Việt Nam Cộng Hoà. Hình ảnh, kỷ niệm về Thủ Đô Sài Gòn vẫn còn mãi trong tâm trí của mọi người Việt dù ở trong nước hay ở hải ngoại:

Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi - Sài Gòn ơi!

Tác giả bài viết này từng đi học, dạy học cũng như phục vụ trong Quân Đội và cùng với gia đình sống tại Thủ Đô Sài Gòn nhiều năm như một "Saigonais" (người Sài Gòn) chính hiệu.
 



Với tâm tình của người Sài Gòn luôn yêu mến Sài Gòn Muôn Năm Cũ ở mọi nơi mọi lúc, nhứt là vào Mùa Quốc Hận - Tháng Tư Đen gợi nhắc lại bao ký ức, kỷ niệm của Sài Gòn xưa vào lúc tôi vừa qua tuổi 40 đang phục vụ tại Biệt Khu Thủ Đô.

Xin mời quý độc giả thưởng lãm bài hồi ức này, nay tôi đang vào tuổi 92 gần đất xa trời, ngày ra đi về với cát bụi không còn xa...

Trong một bản nhạc, sau cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam năm 1954, một câu bài hát của nhạc sĩ Anh Bằng: Tôi xa Hà Nội từ năm 16... (xin lỗi, tuổi 16 (hay 18) còn quá trẻ chưa hiểu biết gì nhiều), còn tôi xa Thủ Đô Sài Gòn thân thương, còn có tên gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông, từ năm 1993 lưu vong định cư tại Mỹ theo diện HO, nghĩa là tôi đã gần tuổi 60 cho nên hình bóng Sài Gòn năm xưa là Sài Gòn Muôn Năm Cũ. Đối với tôi và đối với mọi người yêu mến Sài Gòn với nền dân chủ pháp trị vững mạnh, kinh tế phồn vinh, nền giáo dục nhân bản đại chúng... Dù đang có chiến tranh ác liệt, người dân VNCH cũng hưởng được đời sống vật chất khá đầy đủ, hưởng một nền giáo dục tuyệt vời: dân tộc - khai phóng - nhân bản và đã đưa đất nước Việt Nam sánh ngang hàng với các nước tiến bộ trên thế giới: tự do, dân chủ, pháp trị, tôn trọng mọi quyền căn bản của người dân...

Sài Gòn Cũ mãi mãi nằm sâu trong ký ức kỷ niệm của những người từng sanh ra, lớn lên hoặc làm việc hay đi học ở Saìgon vài năm hay vài chục năm, làm sao quên được những ngày xa xưa đó cho hết cuộc đời này.

Ngày nay, dù Sài Gòn Muôn Năm Cũ của chúng ta đã bị đổi tên một người có nhiều "nợ máu" với dân tộc Việt Nam, nhập cảng một chủ thuyết cộng sản đấu tranh giai cấp phi nhân, một chủ thuyết ngoại lai tàn bạo nhứt trong lịch sử dân tộc, làm băng hoại xã hội. Nhưng, chúng ta, mọi ngưòi Việt yêu nước luôn ghi đậm hình ảnh kỷ niệm thân thương của Sài Gòn Muôn Năm Cũ trong đầu, trong tim, trong tâm tư tình cảm và trong mọi sinh hoạt của mình trên cõi đời này.


Bây giờ hồi tưởng lại, chúng ta "Thương Tiếc" (tượng đồng đen của Điêu Khắc gia Nguyễn Thanh Thu, khoá 13 Ấp Chiến Lược Thủ Đức, trước Nghĩa Trang Quân Đội - Biên Hoà) như tượng bên đây. 51 năm viễn xứ, của người Việt tha hương tỵ nạn cộng sản qua mốc thời gian xa xưa từ năm 1975. Và cá nhân tôi xa rời Sài Gòn lần này cũng là lần cuối, vĩnh biệt Sài Gòn thân yêu.

Từ năm 1993, sau 10 năm tù khổ sai "cải tạo" và 8 năm vật lộn với cuộc sống nghèo khổ khó khăn tại Sài Gòn đã mất tên... Nay, ôn lại những sự kiện khó quên trong đời tôi đối với Sài Gòn năm xưa.
Sài Gòn xưa là một Sài Gòn Thủ Đô - Hòn Ngọc Viễn Đông - với đầy đủ sự tự do thoải mái, đời sống văn minh, lịch sự, không khí trong lành, người dân luôn thượng tôn pháp luật, không phải như Sài Gòn bây giờ xã hội băng hoại, môi sinh ô nhiễm trầm trọng không còn nhiều cây xanh rợp bóng khắp trên những con đường thân quen.

Trong suốt 21 năm từ năm 1954 đến năm 1975, cộng sản Việt Nam đã gây ra biết bao cuộc tàn sát dã man, điển hình như Tết Mậu Thân ở Huế, 1968, đại lô kinh hoàng 1972 ở Quảng Trị...

Suốt cuộc nội chiến tương tàn có đến trên 3 triệu người Việt 2 miền Nam Bắc bị thương vong có trên dưới nửa triệu người đã làm mồi cho biển cả và hải tặc. Những người Việt đó chỉ muốn tìm 2 chữ tự do dù phải vưọt biên vượt biển thập tử nhứt sanh để trốn chạy khỏi "thiên đường mù" cộng sản Việt Nam.
Sài Gòn đối với tôi đã ghi dấu nhiều kỷ niệm với nhiều giai đoạn thời chiến cũng như thời bình.

Sài Gòn, từ nền Đệ Nhất Cộng Hòa, nhân dân Miền Nam hân hoan đón mừng hòa bình sau Hiệp Định Genève 1954, người dân tha hồ mà đi đây đó, tự do, thỏai mái vui chơi giải tri, mọi giá sinh hoạt thường ngày rất thấp, dân chúng an cư lạc nghiệp. Cảnh Sài Gòn luôn nhộn nhịp "ngựa xe như nước áo quần như nen". Đến Đệ Nhị Cộng Hòa, tình hình chiến sự leo thang khủng khiếp từng ngày cho đến ngày quân đội Mỹ "bỏ của chạy lấy người" VNCH vào thế cùng lực kiệt, mất nước 30.4.1975 vào kẻ xăm lăng CSBV.

Hai kỷ niệm sâu đậm của đời tôi đối với Thủ Đô Sài Gòn là được sống tự do thoái mái khá lâu qua mốc thời gian từ năm 1957 - 1962 và từ năm 1970 cho đến năm 1993, có gián đoạn gần 10 năm tù từ Bắc vào Nam. Hình bóng và kỹ niệm của Sài Gòn năm xưa, như sống mãi trong suốt cuộc đời tôi cho mãi đến bây giờ, tôi vẫn ôm ấp cái kỷ niệm Sài Gòn Muôn Năm Cũ đó.

Tôi đang dạy học, lương cao có lương tháng 13 và là Giám Học chương trình Việt Ngữ của trường Trung Học Phước Kiến (sau này đổi thành Phước Đức - trực thăng xạ kích lầm mục tiêu, vụ Tết Mậu Thân 1968, làm cho nhiều sĩ quan cấp tá chết và bị thương). Trường này lớn nhứt của giới Hoa Kiều ở Sài Gòn Chợ Lớn, cuộc đời đang lên hương... Sài Gòn Muôn Năm Cũ đã thỏa mãn sự ham thích của tôi là được đi ăn tại các nhà sang trọng mới khai trương, xem phim mới chiếu xuất đầu tại Sài Gòn và tha hồ đọc sách báo trong thư viện hay tại các tiệm bán sách báo và đặt mua báo tháng...

Tôi rẽ sang bước ngoặt mới - Thi hành lệnh tổng động viên nhập ngũ Khóa 13 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, từ 23.3.1962 cho đến 28.12.1962. Tốt nghiệp ra trường Thủ Đức, tôi chọn đơn vị, xin về Sư Đoàn 21 Bộ Binh và được bổ nhiệm về phục vụ tại Trung Đoàn 33, đơn vị từ An Giang về trú đóng tại Thị xã Châu Đốc một thời gian vài tháng. Đây là dịp tôi "hồi hương" sau bao năm miệt mài học hay đi dạy học ở Sài Gòn và nhiều nơi khác như Biên Hòa, Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu... Về quê hương xứ mắm, có dịp gần gũi Ba Má tôi đã già vì tôi là con trai áp út. Sau đó Trung Đoàn 33 di chuyển về Thị Xã Sóc Trăng và tôi theo cuộc hành quân dài hạn vùng ven của Rừng U Minh Hạ ở Cà Mau.

Đến tháng 4.1964, tôi được thuyên chuyển về Bô Tư Lệnh Quân Đoàn IV ở Cần Thơ chuyên về phát thanh. Khi ngành Chiến Tranh Chính Trị ra đời thay thế ngành Chiến Tranh Tâm Lý cũ với tổ chức quy mô rập khuôn theo mô thức của Trung Hoa Dân Quốc - Đài Loan, có thêm ngành báo chí ở trong Khối Chiến Tranh Chính Trị.


(CSBV và tù binh VNCH 30.4.75).

Tôi được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn IV kiêm nhiệm Ban Phát Thanh Tiếng Nói Vùng IV Chiến Thuất trên làn sóng Đài Phát Thanh Ba Xuyên.

Đời quân ngũ dù phục vụ ngoài chiến trường hay các tại đơn vị hậu phương yễm trợ cũng thường thay đổi đơn vị.

Ngày 1.1.1970, tôi được thuyên chuyển về Sài Gòn - Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị cũng chuyên phục vụ về ngành truyền thông báo chí trong Khối Thông Tin Giao Tế Dân Sự. Tôi trở lại Sài Gòn sanh sống lâu dài lần thứ 2. Sau đó, vì nhu cầu công vụ, tôi được Tổng Cục CTCT bổ nhiệm về giữ chức vụ Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Biệt Khu Thủ Đô, từ đầu năm 1974 cho đến ngày Quốc Hận 30.4.1975.

Thời gian về Sài Gòn sanh sống lần thứ 2 này là thời gian vàng son, cuộc sống đang thăng tiến, ăn nên làm ra, ngoài nhiệm vụ là một quân nhân, tôi còn cộng tác với nhiều tờ báo Nhựt và đài phát thanh truyền hình NHK cũng của Nhựt, có viết lai rai cho vài tờ báo Việt Ngữ.

Cuộc sống đang được thăng hoa từng tháng năm, bổng ngày 30 tháng 4 năm 1975 ập mạnh đến nhanh quá, trở tay không kịp, làm đảo lộn mọi thứ, từ chế độ, đất nước, xã hội cho đến cuộc sống riêng tư của tôi đều bị dìm sâu xuống bùn đen.

Từ tháng 3 năm 1975, cao điểm của cuộc chiến, khi Ban Mê Thuột bị CSBV xua quân chính quy vào đánh chiếm. Cả Quân Khu II và Quân Khu I đang trong tình trạng cùng kiệt khó khăn tiếp vận, địch từ miền Bắc công khai vượt vĩ tuyến 17 vào, xua hàng chục sư đoàn chính quy, đang uy hiếp nặng nề trên toàn lãnh thổ 2 Quân Khu I và II.
Trong lúc QLVNCH đang gặp muôn vàn khó khăn tiếp liệu của Mỹ cũng như mọi viện trợ khác đều bị giới hạn hoặc bị cắt. Lúc bấy giờ, chính quyền Mỹ nhẫn tâm quyết chặt tay chặt chân QLVNCH để không còn khả năng chiến đấu kiên cường trước làn sóng công sản Bắc Việt xâm lăng trắng trợn, chà đạp thô bạo Hiệp Định Paris năm 1973.

Tình hình chiến sự càng ngày càng leo thang dữ dội, trong khi đó viện trợ Mỹ từ xăng dầu. súng đạn... bị cắt giảm mạnh và đến giữa tháng 4/1975,các nguồn tiếp liệu quân sự kể cả tài chánh đều cạn kiệt cho đến thời điểm viện trợ bị cắt hoàn toàn.


(Di tản ngày 29.4.75 tại số 22 đường Gia Long do CIA tổ chức).

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa đang đi vào cảnh sụp đổ, Quân Đội phải được tái phối trí lực lượng phòng thủ và lãnh thổ phải được thu nhỏ lại để có cơ may đương cự hữu hiệu với quân xâm lược CSBV đang được cộng sản Nga Tàu hà hơi tiếp sức quyết chiếm trọn vẹn Miền Nam Việt Nam. Cố gắng cuối cùng của chính thể VNCH hoàn toàn thất bại.

Các giới chức Mỹ và nhân viên các Tòa Đại Sứ ngoại quốc tại Thủ Đô Sài Gòn đã di tản từ tháng 3.1975. Cuộc di tản cao điểm nhứt là trước vài ngày đến ngày 30.4.975, hàng đàn trực thăng bay lượn ngày đêm từ ngoài khơi vào Thủ Đô Sài Gòn, đáp trên nóc bằng của Toà Đại Sứ Mỹ và nhiều điểm khác do CIA điều động ở rải rác nhiều nơi, bốc nhân viên của họ và những người Việt có trong danh sách ưu tiên đặc biệt.

Sài Gòn của chúng ta như nghẹn thở, đêm 29 rạng sáng 30.4.1975, tôi ở lại "tử thủ" tại Khối Chiến Tranh Chính Trị của Biệt Khu Thủ Đô. Vì lúc bấy giờ, Khối CTCT chỉ còn một mình tôi thi hành lệnh cấp trên. Trung Tá Hoàng Thọ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị và Thiếu Tá Trần Văn Thế. Phụ Tá tôi đã đi xuống Nhà Bè tìm tàu đi ra biển (cũng như Thiếu Tá Nguyễn Đình Ngạc Trưởng Phòng Chính Huấn BKTĐ về nhà).

Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang Tư Lệnh Biệt Khủ Đô, khoảng tháng 3.75 được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Hải Quân, nối tiếp là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh và vị Tư Lệnh cuối cùng, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, giữ chức Tư Lệnh chưa được 48 tiếng đồng hồ.

Trung Tướng Nguyễn Văn Minh rời Biệt Khu Thủ Đô sáng 28.4, tôi đứng từ trên lầu của phòng làm việc chứng kiến cảnh ra đi vội vã của Tướng Minh lên trực thăng với vài người sĩ quan thân tín tại sân cờ Biệt Khu Thủ Đô.

Đầu tháng 4.75, tôi được biết tin là các giới chức cao cấp Biệt Khu Thủ Đô và Bộ Tổng Tham Mưu đã họp bàn, nếu Sài Gòn bị CSBV tấn chiếm thì có kế hoạch rút quân về Miền Tây - Quân Khu 4 (với 16 tỉnh có 92 quận), tử thủ. Miền Tây, cũng là nơi mà tôi khá rành địa hình địa vật, có dịp phục vụ 7 năm ở Miền Tây và nơi sanh ra tôi cũng là một tỉnh của Miền Tây.

Vì tin này, có nhiều quân nhân, có điều kiện đi ra ngoại quốc như tôi lại chần chờ, khi Sài Gòn có chính phủ liên hiệp 3 thành phần và đại quân ở Miền Tây tử thủ thì quân CSBV cũng khó đánh chiếm nhanh và thời gian này, chuyện vượt biên bằng tàu bằng ghe từ Miền Tây sang Thái Lan hay các nước khác, không phải là chuyện khó...

Từ cuối tháng 2 năm 1975, tình hình chiến sự càng ngày càng leo thang, Đô Đốc Chung Tấn Cang Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô kiêm Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định, gọi tôi (Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Biệt Khu Thủ Đô) lên văn phòng Tư Lệnh. Đô Đốc ra lệnh tôi đến các thư viện ở Sài Gòn tìm sách viết về Đông Âu, các nước Âu Châu sau cuộc đại chiến Thế Giới II, tóm lược và tường trình lên Đô Đốc.

Hầu hết, các nước bị đế quốc cộng sản quốc tế do Nga Sô chỉ huy ngự trị, đều có một thời gian ngắn hoặc dài trải qua giai đoạn có chính phủ liên hiệp các đảng phái, nhưng sau đó chính phủ liên hiệp và quốc gia đó bị nhuộm đỏ luôn. Đó là đa số các nước Đông Âu sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939 - 1945).

Từ sáng sớm 30.4 các đơn vị chính CSBV và VC đã "dạo phố" Sài Gòn.

Từ phòng làm việc Biệt Khu Thủ Đô, tôi biết tin VC đã tràn ngập Thủ Đô Sài Gòn, tôi bàng hoàng xúc động mạnh, như người máy, đeo vội khẩu súng colt vào nách, vẫn còn mặc quân phục, gọi anh tài xế chở tôi đến văn phòng của nhựt báo Asahi Shimbun tạm nghỉ xả hơi để thay quần áo dân sự và hỏi ký giả Nhựt coi xem có nhận định gì Thủ Đô Sài Gòn thất thủ quá nhanh ngoài sự tưởng tượng của mọi người?.


(Quân Phục vất khắp nơi)

Xe jeep chở tôi chạy ra cửa chánh Trại Lê Văn Duyệt, đường Lê Văn Duyệt. Lúc bấy giờ, tôi còn đề cao cảnh giác vì cửa sau của Biệt Khu Thủ Đô ra đường Trần Quốc Toản, có 1 ngôi chùa có nhiều VC nằm vùng xuất hiện, ngôi chùa này là Việt Nam Quốc Tự và tôi sợ Phật tử giả hiệu nằm vùng làm bậy.

Văn phòng nhựt báo Asahi trên đại lô Nguyễn Huệ, trong khu nhà cao tầng của Dân Biểu Trần Quý Phong, cho nhiều cơ quan báo chí ngoại quốc thuê mướn (Cựu DB Trần Quý Phong sang Mỹ diện HO, định cư tại Atlanta - Georgia).

Đến văn phòng báo Asahi được bình an, dù trên đường phố Sài Gòn đang nhốn nháo, hốt hoảng, có cảnh cướp giựt đó đây... các khu có các đơn vị Quân Đội hoặc Cảnh Sát trú đóng, thiên hạ tràn vào văn phòng "hôi của" vì chẳng còn ai canh gác như trước kia.

Trên đường Lê Văn Duyệt trực chỉ ra chợ Sài Gòn, vừa qua đường Trần Quốc Toản và đến đưởng Phan Thanh Giản, xe chạy ngang qua Bộ Chỉ Cảnh Sát Quận 3, nơi đây, áo quần cảnh sát Dã Chiến và Quân Đội rải rác khắp nơi chung quanh ty cảnh sát này kể cả nón sắt, một ít súng đạn nữa mà chẳng có ai dòm ngó đến.

Người dân lao động cứ xồng xộc chạy vào bên trong Ty Cảnh Sát để lấy cái gì có thể mang vác được đem ra ngoài. Trong lúc chiếc xe jeep của tôi đang chạy đến khu vực đó, chứng kiến cảnh các chiến hữu phe ta, trút bỏ bộ quân phục, vội thay áo quần dân sự, có anh chỉ mặc xà lỏn và áo may ô đi chân đất. Tôi xúc động thật sư, đau lòng quá và nhìn lại bộ quân phục mình đang mặc, nhũ thầm chốc nữa tôi cũng phải vĩnh biệt nó.
Cái may của tôi, là anh tài xế rất lém, anh cũng bắt chước nhiều chiếc xe Jeep khác cũng có miếng vải đỏ buộc trên đầu xe, giống như đám Việt cộng "ăn theo" gọi là VC 30 tháng tư. Đám VC ăn theo này lấy xe jeep bỏ ngoài đường hay tại các cơ quan công quyền, chúng lấy cả súng đạn, chúng quấn vải đỏ vào cổ và buộc vải đỏ trên xe trên súng tha hồ chạy lung tung và đôi lúc bắn loạn xạ, tha hồ mà làm càn, giựt le với những người vứt súng và quân phục đang hớt hải tìm đường về nhà, về quê...


(Trước sân cỏ Dinh Độc Lập sáng 30.4.1975).

Tôi phờ phạc bước vào văn phòng của nhựt báo Asahi, gặp một cô nhân viên người Việt, ông Trưởng văn phòng Asahi và người nhiếp ảnh cũng người Nhựt. Tôi xin phép đi toa lết, thay bộ thường phục, mang giép vì tôi đã có mang theo cái túi có sẵn 2 thứ này khi cần thiết. Khẩu súng lục thân thương của tôi vẫn đeo dưới nách vì có mặc jacket khoác ngoài nên dấu khẩu súng dễ dàng đề phòng khi bị VC bắt làm nhục, tôi có thể tự xử được. Chính khẩu súng này và vài khẩu súng khác, tôi để trong nhà. Đợi đến tối 30 tháng tư, tôi vứt bỏ, kể cả quân trang quân dụng cũng ném xuống sông sau nhà tôi ở đường Hưng Phú, Phường Chánh Hưng - Quận 8 - ở ngay dốc cầu chữ Y.

Khi đến gặp ký giả Nhật mà tôi cộng tác với họ khá thân. Ông Bureau Chief an ủi tôi vài câu và ông đã biết trước cuộc đời của tôi sẽ gặp nhiều nguy khốn khi CSBV chiếm được Miền Nam VN. Ông trao tặng 1 tờ giấy xanh $100 đô la và ông còn trao tặng cho tôi 2 túi thuốc cứu thương của các phóng viên ngoại quốc ở Việt Nam trong thời chiến.

Tình người, tình đồng nghiệp của ông Bureau Chief Nhựt Bổn này làm tôi xúc động muốn rơi nước mắt, ông ân cần an ủi và nói rằng:

- Tôi phải giữ tiền, túi thuốc cứu thương rất hữu dụng cho các ngày sắp tới. Ông nói tiếp: - Tôi cùng đi với ông ra Dinh Độc Lập chứng kiến nhiều cảnh lạ lụng bất ngờ lắm. Ông đưa tôi 1 tấm vải có hình cờ Nhựt gọi là tấm "ba sa - brassard" để đính vào tay áo và trên túi áo có cái biển nhỏ đề Japanese Press.

Thế là tôi, trở thành một ký giả Nhựt. Cả ba chúng tôi do ông Sếp cầm tay lái xe đến thẳng Dinh Độc Lập mất chưa tới 10 phút. Người ta bu quanh ngoài hàng rào Dinh Độc Lập và hàng hàng lớp lớp xe tăng T54 và xe molotova chở đầy lính chính quy CSBV đậu dọc theo Đại lộ Độc Lập (Thống Nhất), xe đậu 2 bên đường qua khỏi Nhà Thờ Đức Bà. Tìm chỗ đậu xe xong, chúng tôi xuống xe đến gần hàng rào Dinh Độc Lập nhìn thấy 1 bờ tường gần cánh cửa chính Dinh Độc Lập bị 1 chiếc xe tăng T54 húc sập. Tôi bàng hoàng, xúc động rơi nước mắt và nói với ông Trưởng Văn Phòng Asahi, tôi không thể nào có can đảm vào Dinh Độc Lập chứng kiến cảnh bi thương nào nữa vì Dinh Độc Lập đã đổi chủ.

Tôi bắt tay giã từ 2 người bạn Nhựt đó từ ngày lịch sử 30.4.1975 khoảng gần 12 giờ trưa. Và đến nay đúng 51 năm, tôi chưa gặp 2 người bạn Nhựt này nói lời cám ơn nhờ 2 túi thuốc cấp cứu của 2 anh nhà báo Nhựt tặng mà tôi mới còn sống đến ngày nay. Từ Dinh Độc Lập, dù đường xa, tôi đi bộ đến đường Tự Do để còn đến Chợ Bến Thành lấy xe buýt về nhà.

Trước Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến, nhìn sang Hạ Nghị Viện, một thi thể được ai đó xếp nằm ngay ngắn, mũ Cảnh Sát được để trên bụng, đầu quay ra Đại lộ Tự Do và bên kia đường là Trụ Sở Hạ Nghị Viện, chân giũi thẳng ra chân Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến. Trên bộ cảnh phục Cảnh Sát Quốc Gia, có tên và cấp bực Trung Tá - Trung Tá Nguyễn Văn Long tự sát tại đây sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng

Tôi cũng như nhiều người VN khác, có thể cũng là quân nhân hay cảnh sát chỉ dám nhìn qua rồi vội vã ra đi vì sợ đám VC 30 tháng tư "chụp". Chỉ có vài người ngoại quốc, hoặc là phe thân cộng mới dám đứng xem lâu và cũng như dám chụp hình.


(Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tự sát).

Sau này, chúng ta có tấm hình một Trung Tá Cảnh Sát - Nguyễn Văn Long - đã anh dũng hiên ngang tuẫn tiết và nằm ngay trước chỗ "thiêng" có Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến và Quốc Hội - Hạ Nghị Viện VNCH chứng giám. Trong lúc 5 vị tướng lãnh Sinh Vi Tướng Tử Vi Thần, hình như không có 1 tấm hình nào được chụp trong tư thế chết can trường như TT Long để lại hậu thế về sự tuẫn tiết kiêu hùng bất khuất đó của 5 vị Tướng Quân và các chiến sĩ khác cũng tuẫn tiết cho ngày đau thương oan nghiệt 30.4.1975.

Tấm hình lịch sử bất hủ này do một ký giả Pháp chụp được. Đây là tấm hình có một không hai ngày 30.4.75 đầy oan nghiệt đau thương của những người ngã ngựa, thua cuộc.

Vì vậy, với tấm hình Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tuẫn tiết nằm giữa trời trước Tượng Đài Thủy Quân Lục Chiến để lại cho các thế hệ hậu duệ kế thừa học được bài học lịch sử quý báu về sự anh dũng hy sinh của các anh hùng dân tộc hiện đại - năm 1975.

Tôi đến chợ Bến Thành đi xe buýt về nhà, cả gia đình tôi vô cùng mừng rỡ, tưởng tôi đã bỏ gia đình, chạy thoát đi ngoại quốc rồi vì 3 - 4 ngày tôi ở miết trong Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô không về nhà nhằm theo dõi tình hình, vì công vụ cũng có và đợi coi xem có lệnh chuyển quân về miền Tây, sẽ gọi gia đình cùng đi. Tại nhà tôi ở Cầu Chữ Y có sẵn chiếc xe Jeep của bà xã cũng sẵn sàng chay theo xe tôi khi tôi gọi... Tôi đợi cho đến giờ phút đau buồn nhứt trong cuộc đời binh nghiệp của mình - có lệnh đầu hàng buông súng của Tổng Thống giờ thứ 25 Dương Văn Minh, thế là hết.!!!

Khi về đến nhà, tôi ngỡ ngàng sao có nhiều người quá, có các cô đang học ở Trường Xã Hội Quân Đội, gốc Miền Trung, khi nghe Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vội chạy ra khỏi trường Xã Hội Quân Đội (do bà xã tôi làm Chỉ Huy Trưởng) không biết đi đâu, chạy đến nhà cấp huy cũ của mình xin tá túc và có cô còn xin tiền vì chưa lãnh lương để mua vé xe đò, hơn 10 cô, một hai ngày sau về quê. Lúc này, chúng tôi không còn lo sợ nữa kể như mình đã chết. Cũng may, cả chục người đều là phụ nữ mặc thường phục như người dân "chạy giặc" nên cũng không bị dòm ngó như sau này.

Thế là, sau 13 năm trong quân ngũ, giờ đây, tôi chỉ còn là một người "thua cuộc", không bại trận, như cá nằm trong rọ chờ xem ngày mai (tương lai) sẽ ra sao?

Sài Gòn ơi! tôi xa Sài Gòn hay Sài Gòn xa tôi từ ngày 13 tháng 6 năm 1975.

Hai vợ chồng đèo trên 1 chiếc xe đạp mang theo đồ đoàng đi trình diện "học tập cải tạo", chạy theo chúng tôi có chú tài xế trung tín của bà xã tôi, đạp xe theo hộ tống đến trường Petrus Ký - địa điểm trình diện, và lấy xe đạp của vợ chồng tôi đưa về nhà. Đó là gia tài còn lại của vợ chồng tôi để lại cho 4 đứa con nhỏ từ 3 đến 9 tuổi. Đứa con gái út Quỳnh Ngọc, nay cháu cũng nối nghiệp cha viết lai rai với bút hiệu Cánh Quỳnh và xung phong làm công tác thiện nguyện cho trường Việt Ngữ Lạc Hồng tại Sacramento.

Mới ngày nào, con gái út tôi 3 tuổi nay 54 tuổi, công chức tiểu bang. 51 năm từ ngày 30.4.75, trôi qua nhanh và mang theo nhiều đau khổ cay đắng của chế độ CS tàn độc đối với những người ngã ngựa thua cuộc.

Lúc bấy giờ - năm 1975 - tôi 40 tuổi, tương lai rực sáng bổng bị chìm lịm hiu hắt trong các trại tù cải tạo khổ sai, tưởng đâu đã bỏ xác tại trại tù cải tạo như nhiều người bạn của tôi đã ra đi.

Với tuổi trên 90, tôi còn được bao năm tháng nữa để chôn chặt giữ mãi biết bao kỹ niệm thân thương buồn vui đời lính và Sài Gòn Muôn Năm Cũ trong tim trong đầu tôi.

Sài Gòn Muôn Năm cũ ơi! ta chào mi!

Hình bóng của Thủ Đô Sài Gòn hoa lệ năm xưa là Hòn Ngọc Viễn Đông - mãi trong tim và tôi hy vọng sẽ gặp lại Sài Gòn Muôn Năm Cũ một ngày không xa trước khi được thuyên chuyển về Vùng 5 Chiến Thuật.

Khi đáo nhậm đơn vị mới - Vùng 5 Chiến Thuật - tôi cũng sẽ gặp lại các ông thầy cũ từng là Tư Lệnh Quân Đoàn IV và Biệt Khu Thủ Đô mà tôi có dịp làm việc dưới quyền: Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Dương Văn Đức, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh, Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng, Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh, đây là quý vị Tướng lãnh giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn Quân IV & Quân Khu IV (Vùng IV CT).

Các vị Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô mà tôi từng phục vụ dưới quyền nay cũng giả từ vũ khí như Đô Đốc Chung Tấn Cang, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (Minh đờn), Thiếu Tướng Lâm Văn Phát (Tư Lệnh giờ thứ 25 cùng xuồng với Đại Tướng Dương Văn Minh) và vị Tư Lệnh Phó của 3 ông Tư Lệnh Cang, Minh, Phát là Chuẩn Tướng Lý Bá Hỷ cũng qua đời tại Paris - Pháp quốc ngày 28 Tết (Ất Mùi), thọ 92 tuổi. Đây cũng là ông thầy của tôi trong những giờ phút cuối cùng của Sài Gòn đang hấp hối. Ông Tướng Hỷ luôn gần gũi với tôi và làm việc chung giúp các đơn vị từ Biên Hòa, Quân Khu III lui quân "di tản chiến thuật" về đóng chốt trong vòng rào Biệt Khu Thủ Đô và các nơi trong Thủ Đô Sài Gòn.

Sài Gòn Muôn Năm Cũ Của Tôi Ơi! còn hay đã mất?

Anh Phương Trần Văn Ngà,
Hồi Ức (Sacramento 9.4.2026 - viết lại)

http://batkhuat.net/van-saigon-muonnamcu.htm

Vietnamese Heritage Museum

https://www.youtube.com/@VietnameseMuseum/featured