DÂN
TỘC – NHÂN BẢN – KHAI PHÓNG là ba nền Triết lý giáo dục của Việt Nam
Cộng hòa (VNCH) được chính thức xác lập tại Đại hội Giáo Dục Quốc Gia
lần thứ I (1958) và củng cố tại Đại hội lần thứ II (1964).A-Dân tộc: Tôn
trọng và bảo tồn các giá trị truyền thống, gồm lịch sử và văn hóa của
dân tộc. Học sinh học để hiểu rõ nguồn cội, để có lòng tự tôn dân tộc và
để có ý thức trách nhiệm đối với sự tồn vong của tổ quốc.B-Nhân bản:
Lấy con người làm gốc, phát triển nhân cách, tâm hồn và thể chất của cá
nhân. Triết lý này đề cao giá trị thiêng liêng của con người, không biến
người học sinh thành công cụ cho bất kỳ mục đích chính trị hay tư tưởng
hẹp hòi.
C
-Khai phóng: Lấy tinh thần bao dung để khuyến khích và công nhận giá
trị của sự suy nghĩ và phản biện, nhằm tạo điều kiện để học sinh tiếp
thu tinh hoa khoa học kỹ thuật và văn hóa nhân loại. Mục đích là đưa con
người thoát khỏi sự dốt nát và định kiến, giúp cá nhân có khả năng tự
quyết định và thích nghi với sự thay đổi của thời đại
Để
thực hiện được ba triết lý này, chương trình giáo dục thời VNC thiết kế
qua các môn học và phương pháp giảng dạy đại lược như sau:
A. Tính Dân tộc: Môn Văn, Sử, Địa và Hán tự
I/Môn
Sử - Địa: Tập trung vào lịch sử chống ngoại xâm và địa lý các vùng miền
đất nước để bồi đắp lòng yêu nước và ý thức về chủ quyền.
II/Môn
Cổ văn và Hán tự: Môn Việt văn, nhằm vào việc giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt. Học chữ Hán (với các bộ thủ cơ bản) để hiểu sâu hơn về ý và
nghĩa của những từ Hán-Việt, từ đó hiểu biết thêm về cội nguồn văn hóa
qua các tác phẩm cổ điển như Kim Vâtn Kiều, Chinh phụ ngâm, Bích Câu kỳ
Ngộ, Lục súc Tranh Công, Bình Ngô Đại Cáo…
B. Tính Nhân bản: Môn Công Dân Giáo Dục và Đức Dục.
Dạy
về lễ nghĩa trách nhiệm của mỗi cá nhân dối với cá nhân, gia đình, tinh
thần gia tộc; xã hội và tổ quốc, trách nhiệm với đồng bào, xóm làng.
Lòng hiếu thảo, lòng tự trọng, lòng tự tôn dân tộc; Học về cách đối nhân
xử thế. Ý thức về quyền lợi, nghĩa vụ của công dân. Không bắt buộc học
sinh phải theo một khuôn mẫu tư tưởng nào đó, mà khuyến khích sự phát
triển tài năng riêng của mỗi cá nhân
C. Tính Khai phóng:
Trí tuệ được khai mở qua: Khoa học, Ngoại ngữ và Nghị luận
1/Ngoại
ngữ: Ngay từ lớp Đệ Thất (lớp 6). Học sinh được chọn sinh ngữ chính là
tiếng Anh hoặc tiếng Pháp giúp tiếp cận trực tiếp với tri thức thế giới.
2/Triết
học: Ở lớp 12, ban Văn chương được học Triết học (Tâm lý học, Đạo đức
học, Luận lý học và Siêu hình học) để rèn luyện tư duy độc lập và khả
năng biện luận.
3/Cập nhật kiến
thức: Để không bị lạc hậu so với thế giới, chương trình các môn Khoa học
thực nghiệm, được biên soạn. theo giáo trình của các nước tiên tiến.
4/Đi
vào thế giới kiến thức: Lên đến lớp Đệ Tam, năm đầu của Trung Học Đệ II
cấp, học sinh phải chọn ban dựa trên sở trường hay ý thích của mình. Có
4 ban chính như sau:
a.
Ban A (Vạn vật - Khoa học thực nghiệm). Dành cho những học sinh muốn
theo ngành Y, Dược hoặc Nông nghiệp. Môn học chính là Vạn vật (Sinh
học), Lý - Hóa. Đây là ban đòi hỏi sự tỉ mỉ. Học sinh phải giỏi quan sát
thực nghiệm (Khai phóng trong khoa học), vừa phải có tư duy nhân bản để
sau này làm ngành nhân ái cứu người.
b.
Ban B: (Khoa học). Môn học chính là: Toán và Lý, Hóa. Dành cho học sinh
muốn vào sư phạm Toán hoặc Kỹ thuật. Đề thi Toán Ban B nổi tiếng là
cực khó, đòi hỏi tư duy rất cao. Tuy học Toán, nhưng vẫn phải thi Triết
học (dù nhẹ hơn Ban C) để đảm bảo tính nhân bản trong tư duy khoa học.
c.
Ban C (Văn chương - Sinh ngữ). Môn học chính là Triết học và Văn
chương. Học sinh phải học Triết học với thời lượng rất nặng (8 giờ/tuần ở
lớp 12). Đề thi Triết và Việt văn của Ban C luôn đòi hỏi sự sâu sắc,
dùng từ hoa mỹ nhưng luận điểm phải đanh thép. Về ngoại ngữ học sinh
thường phải giỏi ít nhất là 1 trong 2 ngoại ngữ như nếu Pháp văn chính,
thì Anh văn phụ hoặc ngược lại, và phải học thêm Hán tự.
d.
Ban D (Cổ văn - Hán tự). Môn học chính là Hán tự, Mạnh Tử, Khổng Tử….
Ban nầy thường ít học sinh. Dành cho những người đi sâu vào nghiên cứu
văn hóa truyền thống. Học sinh học cách đọc hiểu các văn bản cổ để giữ
gìn gốc gác văn hóa của Dân tộc.
5/Thi
cử: các kỳ thi chuyển bậc học là điều kiện của đoạn dường tôi luyên
nhân tài. Vì thê, ba năm Đệ Nhị cấp (Đệ II), học sinh phải vượt qua hai
kỳ thi Tú Tài. Phải thi đậu Tú Tài I (tú Tài Bán Phần hay Tú Tài 1) tức
lớp Đệ Nhị mới được học tiếp lớp Đệ Nhất để dự thi Tú Tài II (Tú Tài
Toàn Phần). Phải có Tú Tài II mới được vào Đại học dự bị trờ thành nhân
tài, đảm trách vai trò lãnh đạo tham chính trong tương lai. Do vậy, học
sinh không những phải học thuộc lòng mà còn phải có kỷ năng thực sự,
đồng thời phải có nỗ lực mới có thể đạt được chứng chỉ học thuật cao
hơn. Đó là sự khai phóng.
6/Hôi
Đồng Giám khảo: Để tôn trọng tính khách quan và công bằng giám khảo
thường là các giáo sư từ địa phương khác đến chấm thi. (Nhân bản - công
bằng).
7/Đề
thi: chú trọng "Nghị luận" và "Tư duy phản biện". Để độc giả thấy được
ba nền tảng triết lý giáo dục: Dân tộc, Nhân bản và Khai phóng, xin dẫn
chứng vài ví dụ về các đề thi thời kỳ đó:
a/Đề thi môn Công dân giáo dục (Tiểu học - lớp Nhất). Ngay từ cấp nhỏ, đề thi đã chú trọng vào hành vi và đạo đức thực tế:
Câu
hỏi: "Em đi học về thấy một cụ già muốn qua đường mà xe cộ lại đông. Em
sẽ làm gì? Tại sao làm như vậy?". Đây là giáo dục về lòng trắc ẩn (Nhân
bản) và trách nhiệm với cộng đồng (Dân tộc).
b/ Đề thi môn Việt văn (Tú tài I - Ban ABC, năm 1970): Đề thi thường yêu cầu sự cảm nhận cá nhân và kết nối với thời đại:
Đề
bài: Anh/chị hãy bình luận ý kiến sau đây của một nhà văn: “Văn chương
không phải là một món giải trí xa xỉ, mà là một lợi khí để phụng sự con
người và dân tộc”. Đề thi này hội đủ cả 3 tính chất: Dân tộc (phụng sự
dân tộc), Nhân bản (vì con người) và Khai phóng (vai trò của trí thức
trong xã hội).
c/ Đề thi môn
Triết học (Tú tài II - Ban C, năm 1974): Đề thi thường đưa ra những vấn
đề có tính gợi ý, buộc học sinh phải suy luận. Thí dụ:
Đề
bài: "Có người quyết định dựa theo dư luận, có người quyết định dựa
theo tiếng nói của lương tâm. Theo anh/chị, thái độ nào đúng đắn hơn?”.
Đề thi này trực tiếp vào tính Nhân bản (cá nhân và lương tâm) và Khai
phóng (tự do lựa chọn, không rập khuôn theo đám đông). Phụng sự dân tộc,
Nhân bản (vì con người) và Khai phóng (vai trò của trí thức trong xã
hội).
8/ Giá trị của văn bằng:
Văn bằng Tú tài II thời VNCH không chỉ là một chứng chỉ học thuật mà còn
là một "giấy thông hành" quyết định vận mệnh của một thanh niên là cánh
cửa duy nhất vào Đại học và Học viện. Vì chương trình học, và vì tỷ lệ
thi đậu rất thấp (chỉ khoảng 20-30%), nên người có bằng Tú tài II thường
gọi bằng danh từ nể trọng là "Cậu Tú hay cô Tú".
a.
Cánh cửa duy nhất vào Đại học và Học viện Hành chánh dân sự, Sĩ quan
quân đội (Quân trường Thủ Đức, Võ khoa Đà Lạt, Chiến tranh Chính trị, Sĩ
Quan Hài quân Nha Trang, Sĩ quan Không Quân, Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc
Gia…). Đào tạo để trở thành những viên chức chỉ huy.
b.
Đại Học Sư Sư phạm: Đây là lựa chọn hàng đầu của các cô Tú vì phù hợp
với thiên chức và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, và ra trường có việc
làm ngay. Hoặc thi vào Sư phạm Tiểu học tại các trường Sư phạm Quy Nhơn,
Vĩnh Long... trở thành giáo viên tiểu học.
c. Ngành Y - Dược – Nha khoa và Xã hội là những nghề nhân ái.
9/Hoãn
dịch vì lý do học vấn: Nếu đậu Tú tài II và tiếp tục học lên đại học,
thanh niên được quyền hoãn dịch hàng năm để hoàn thành việc học. Nếu
rớt, họ sẽ phải nhập ngũ ngay
Nếu
chỉ có bằng Tú tài I, đi Sĩ Quan Thủ Đức (Chuẩn Úy). Nếu có bằng Trung
Học Đệ I Cấp đi Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ra Hạ Sĩ Quan (Trung Sĩ)
D-Các Môn học phụ và sinh hoạt ứng dụng giúp định hình nhân cách
1/Đức
dục và Gia chánh: Ngoài các môn học chính, học sinh còn học thêm về Hội
họa, Âm nhạc, Thể thao. Nữ sinh bắt buộc phải học thêm môn Nữ công gia
chánh (nấu ăn, thêu thùa, may vá, cắm hoa), cách tiếp khách, bày biện
bàn tiệc. giúp họ trở thành những người phụ nữ giỏi nhiều mặt.
2.
Báo chí và Văn nghệ: Các trường thường có giai phẩm Xuân, báo đặc san
do học sinh biên tập, vẽ tranh (hồi đó thường gọi là bích báo tức báo
viết và trình báy trên mốt trang giấy lớn và đính vào bức tường của lớp
học).
3.Thể thao và Xã hội: Học
sinh được khuyến khích chơi các bộ môn thể thao như túc cầu, bóng
chuyền, bóng bàn…. và tham gia các hoạt động xã hội như thăm trại mồ
côi, cứu trợ nạn nhân chiến tranh, hướng dẫn những nhàn lãnh tạo tương
lai vừa có học vấn, vừa có thể chất tốt, và phải có ý thức trách nhiệm
với xã hội.
4.Hoạt động xã hội:
Nhiều nam sinh tham gia phong trào Hướng đạo Việt Nam, hay Gia Đình Phật
Tử học cách sinh tồn, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, tha nhân
và xã hội; kỹ năng lãnh đạo và tinh thần phụng sự quốc gia
5.Tranh
luận và Diễn thuyết: Các buổi sinh hoạt học đường thường xuyên có những
cuộc tranh luận về lịch sử, thời cuộc, khoa học. Mục đích là rèn luyện
cho học sinh có tư duy phản biện, không chấp nhận những kiến thức một
chiều hay có sẳn.
E.Hệ quả:
Hệ quả về những điểm đặc trưng của nền giáo dục Dân Tộc- Nhân Bản- Khai Phóng:
1.
Tinh thần đoàn kết và Tự hào cội nguồn (Dân tộc): Tên trường là Truyền
thống: Mỗi trường mang tên một vị anh hùng dân tộc (Trưng Vương) hay địa
danh lịch sử, giá trị tôn giáo (Bồ Đề của Phật Giáo hay Thánh Tâm, Sao
Mai của Thiên Chúa Giáo). Học sinh tham gia các buổi lễ tưởng niệm, diễn
văn nghệ về lịch sử dân tộc để bồi đắp lòng yêu nước. Học sinh luôn
được nhắc nhở về tấm gương danh nhân. Họ học để trở thành những "kẻ sĩ"
thời đại mới, có trách nhiệm gánh vác tương lai dân tộc.
2.
Kỷ luật tự giác và Phong thái (Nhân bản). Học sinh được rèn luyện cách
đi đứng nhẹ nhàng, lời nói lễ phép "thưa, gửi". Bộ đồng phục còn là công
cụ rèn luyện sự nghiêm trang và nhân cách.
3. Tính Dân tộc: Giáo sư chỉ là người hướng dẫn, còn học sinh là người chủ động khám phá Ý thức về vai trò của kẻ Sĩ
4.
Tính Nhân bản: Sự công bằng và Tình huynh đệ. Thực tài là trên hết: Ở
các trường học, thì dù con của bộ trưởng hay con của người lao động
nghèo đều ngồi chung một lớp, cạnh tranh công bằng qua các bài thi. Điểm
số là thước đo duy nhất cho năng lực cá nhân.
5.
Tính Khai phóng: Tự do tư duy và Khát vọng dẫn đầu. Tinh thần tự học
với việc tự tìm tòi tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh để giải những bài
toán khó hay đọc các tác phẩm triết học kinh điển.
6.Tình
nghĩa sư đồ và bạn hữu: Sự tôn trọng tuyệt đối dành cho các vị Giáo sư
giúp hình thành nhân cách sống, biết kính trên nhường dưới. Các vị giáo
sư thường không chỉ là người thầy dạy chữ vì trí thức uyên bác, mà còn
biểu tượng cho cốt cách "kẻ sĩ" theo đúng tinh thần Nhân bản và Dân tộc.
7/Xưng
hô: Học trò luôn xưng "con" và gọi "thầy/cô" một cách trân trọng. Ngược
lại, thầy cô thường gọi học trò là "anh/chị" thể hiện sự tôn trọng đối
với những nhân cách đang trưởng thành (Nhân bản) và sẽ là những nhà lãnh
đạo tương lai.
E. Kỷ niệm về trong thực tại.
1/
Những cuốn lưu bút chứa hoa ép thường được cất trong những chiếc hộp gỗ
hoặc trong những quyển sách dày và nặng. Có những cụ ông, cụ bà khi
tình cờ tìm thấy những nhành hoa ép khô, mở lại cuốn sổ lưu bút vẫn thấy
như mới hôm qua. Những im lìm trong cuốn sách cũ sau mấy mươi năm lạc
mất nhau, cảm xúc của những cựu học sinh thường là một sự chấn động tâm
hồn mãnh liệt. Đó không chỉ là tìm thấy một vật kỷ niệm, mà là tìm thấy
lại chính mình của thời hoa mộng. Thời gian ngưng đọng, rồi gương mặt
của "thằng bạn” hay "người ấy" hiển hiện sau màn lệ mỏng manh của tuồi
“cổ lai hi”.
2/
Nỗi bồi hồi về một thời "Nhân bản" và "Lễ nghĩa". Nhìn nhành hoa được
ép tỉ mỉ, họ nhớ về cái thời con người đối xử với nhau đầy trân trọng và
tinh tế. Thấy thương cho bản thân và bạn bè mình đầy hoài bão nhưng rồi
bị cuốn trôi vì những thăng trầm của lịch sử.
3/Nỗi
đau về sự chia lìa, mất mát sau biến cố 1975 là chứng tích tang thương
mà quê hương phải gánh chịu. Hoàn cảnh có làm xã hội thay đổi, nhưng
những giá trị giáo dục về tình người (Nhân bản) và Lòng tự hào về giống
nòi (Dân Tộc) mà họ được học vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc
cho tinh thần Khai Phóng .
4/Nhiều
cựu học sinh định cư ở nước ngoài, trong những lần thấy được kỷ vật,
hay khi thấy một cánh phượng vĩ rơi ra từ cuốn từ điển. Đó là những minh
chứng họ đã từng có một quê hương tươi đẹp và một tuổi trẻ rực rỡ. Vì
vậy, cho đến lìa đời Việt Nam vẫn mãi trong trái tim của họ.
G. Nền Giáo Dục Viết Nên Những Trang Sử Cho Quê Hương Bất Diệt
Ba
nền triết lý giáo dục này là kế thừa và tiếp nối dòng sinh mệnh của
lịch sử Việt Nam điển hình rõ ràng nhất là trong cuộc chiến giữ gìn phẩm
giá dân tộc.
Những
anh hùng Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, Thiếu Tá Nguyễn Đình Trí và 74 chiến sĩ
đền nợ nước trong cuộc hải chiến ngày 19.1.1974 giữa Hải Quân VNCH với
Trung cộng. Hay anh hùng Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, Đại úy Nguyễn Văn
Đương, Các quân nhân anh hùng hàng hàng lớp lớp trở về đất Mẹ với phong
thái lãng mạn kẻ sĩ “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao – Da ngựa bọc thây –
xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên….”. Hình ảnh hào hùng ấy được
một cô giáo ờ An Lộc, tỉnh Bình Long viết lời kinh cẩn nghiêng mình
:”An Lộc địa, sử ghi chiến tích – Biệt Cách Dù vị quốc vong thân.”
Ngũ
Hỗ Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam – Phạm Văn Phú – Trần Văn Hai – Lê Nguyên
Vỹ - Lê Văn Hưng, và vô số những bậc cân quốc anh hùng như Trung Tá
Nguyễn Văn Long, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn làm sống dậy những hào hùng của Hai
Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Binh Trọng, Đặng Dung, Nguyễn Tri Phương,
Hoàng Diệu, Trương Công Định, Võ Duy Dương, Phan Tòng và nhiều nghĩa
quân khác trong phong trào Cần Vương, Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quôc
Dân Đảng…Tuy không có số liệu tổng kết chính thức cho tất cả các biến cố
lịch sử, vì tinh thần "thà chết vinh còn hơn sống nhục, hay Thà Làm quỷ
nước Nam hơn là vua đất Bắc – và Không thành công thì cũng thành Nhân".
Đó là niềm tín ngưỡng truyền thống của Dân Tộc Việt Nam “Sinh ky1q -
tử quy) là một phần trong truyền thống sĩ phu của Việt Nam xưa nay. Tất
cả đều phát xuất từ lòng tự tôn DÂN TỘC, ý thức NHÂN BẢN và KHAI PHÓNG.
Vì
vận nước, quê hương Việt Nam bị chìm đắm trong khổ nạn cộng sản Việt
Nam, nhưng tin chắc quê hương Việt Nam sẽ trở lại nền tự chủ như đã từng
qua bao thời hưng phế. Khi đất nước rạng rỡ sang trang, thì ba nền tảng
triết lý giáo dục:
NHÂN BẢN – DÂN TỘC - KHAI PHÓNG
lại
tiếp tực trở về trên trang sách, thâm nhâp vào hồn người và trở thành
chất liệu cho ý chí, cho sức mạnh lửa thiêng Dân Tộc Việt Nam
Xin được giới thiệu cùng các bạn, dưới đây
là một đoạn tường thuật ngắn về một trận đánh của Tiểu đoàn 9 Nhảy dù
vào tháng 8 năm 1972 ở Quãng Trị, mà tác giả Phú Quy Lê đã đăng trên
trang Quân Đội VNCH. Lúc bấy giờ là một chàng thanh niên binh nhì được
thăng bình nhất ngay tại mặt trận. Qua lời bạn kể, tôi vừa đọc vừa hình
dung cảnh chiến trường năm xưa… Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần và tưởng
tượng ra những tình huống, những cảm xúc từ những khuôn mặt mà bây giờ
mới thấy còn non choẹt thật tội nghiệp! Tôi vừa ngưỡng mộ vừa thương
quá, dù lúc bấy giờ thật ra tôi cũng chỉ đồng lứa tuổi.
Nhưng
nay tất cả đã là những ông già, xin được tâm tình chia sẻ cùng Phú Quy
Lê và các bạn những cảm nghĩ trong hiện tại ở tuổi chặng cuối đờidù muộn
màng.
Sau gần nửa thế kỷ đến bây giờ tôi mới
thấy rất nể phục và thật thương khi nhận ra những khuôn mặt người lính
chiến lúc đó còn quá trẻ, non nớt mà luôn phải đối mặt trước sự sống và
cái chết chỉ cách nhau từng gang tấc. Bạn bè chiến hữu bên nhau cùng ghì
tay súng, nhưng trong thoáng chốc một đứa nằm yên bất động, bỏ lại hết
mọi cuộc chơi!!! Tuổi thanh xuân đang phơi phới mặc cho cha mẹ, anh chị
em, bạn bè tiếc thương than khóc! Hỏi ai không đau đớn tận cỏi lòng!
Thời gian giao tranh chỉ chưa tới nửa đêm
kể từ khi tiếng súng của địch quân khai hỏa lúc chập tối, mà binh nhì
Phú Quy Lê gọi là bắt đầu cuộc chơi, hai đại đội đã có 60 binh sĩ hy
sinh 80 bị thương, đối phương thì để lại đếm được hằng trăm xác.Cứ tưởng
tượng cảnh máu me, thân người nằm ngỗn ngang mà quá khủng khiếp! Chiến
tranh là vậy đó nhưng làm sao có thể thờ ơ vô cảm!? Trong lúc tuổi già
của chúng tôi hiện tại đã trên 70, lại thấy mạng sống quý giá luôn nơm
nớp.
Bạn viết tháng 8 năm 1972 đơn vị của bạn,
tiểu đoàn 9 Dù đóng ở nhà thờ La Vang Quãng Trị, bị 1 sư đoàn đối phương
tấn công quyết tâm xóa sổ! Lúc bấy giờ tôi 22 tuổi,có lẽ cũng trạc tuổi
bạn, đơn vị ở Đà Nẵng phi đoàn A 37 Phi Hổ mà hầu như các hoa tiêu thay
phiên nhau có mặt trên bầu trời cổ Thành Quãng Trị như đi chợ mỗi ngày,
và chẳng để tâm chi nhiều đến các chiến sĩ trong đó có bạn Phú Quy Lê
lúc bấy giờ ở dưới đang cố thủ, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình
để giành lấy từng tấc đất. Thật ra cũng khó trách, ở trên trời chúng tôi
có thấy được gì đâu! Đồi núi vẫn chập chùng im ắng đến vô tình! Về lại
thành phố cũng cà phê dạo phố, đêm ngủ giường nệm máy lạnh v.v… chẳng
qua là bảo vệ sức khỏe ngành phi hành.
Rồi
thời cuộc đưa đẩy, nếu không có cuộc diện 30-4-1975, tôi không bị 7 năm
đi tù “cải tạo” thì làm sao biết được cảnh khổ lội suối trèo rừng, thì
có lẽ khó mà hiểu thấu những gì bạn kể hôm nay,ấy thế mà các chiến hữu
từng chịu đựng bao gian nguy ngoài mặt trận lại luôn có ánh mắt hết sức
thân thiện với Không Quân pilot.
Chiến hữu bạn tù chia sẻ, lúc đánh nhau
ngoài mặt trận mà có sự xuất hiện của máy bay Skyraider, A 37 hay F5 là
binh sĩ lên tình thần lắm! Tôi nghe kể mà quá sức cảm động! Riêng tôi
thì suy nghĩ ngược lại, trong thâm tâm lại vô cùng nể phục, hâm mộ các
bạn chiến sĩ dưới mặt đất và nhiều lần tự nhủ thầm: May sao phận số ông
Trời đã dành cho tôi là Không Quân, chứ là lính chiến ngoài mặt trận như
các bạn đồng lứa, có lẽ tôi không thể nào thích hợp và chịu đựng nổi!
Tiếc thay những cảm xúc này ngày xưa còn trong quân ngũ tôi đã không bao giờ nghĩ tới!
Cám ơn chiến hữu, cựu binh nhất Phú Quy Lê đã tâm tình chia sẻ, tôi rất quý mến bạn!
Phiếu Lê
Phú Quy Lê đã viết:
“Tháng 8/1972 khu vực Nhà Thờ LaVang Sư
Đoàn 326 CSBV từ trong rừng phát loa kêuTĐ9/ND hãy đầu hàng, tất cả 3
Đại Đội đã chuẩn bị sẳn sàng đón tiếp gồm ĐĐ 90 nằm BCH Tiểu Đoàn, ĐĐ/92
cánh trái bắt tay ĐĐ/93 BCH Tiểu Đoàn. 4 chiếc M113 và 2 chiếc M48 nằm
yểm trợ. Bọn CSBV bắt đầu cuộc chơi từ lúc khoảng 18h khi trời vừa sụp
tối mở màn bằng hàng trăm trái đại pháo 130, rất may là đã lọt xuống
triền đồi, rồi đến cối 61 và 82 ly, tiếng depart nghe như bắp rang, giờ
có 1 số anh em bị thương và hy sinh, kế tiếp là tiếng mìn Claymore rồi
tiếng lựu đạn gài nổ, tiếng HS Thắng bên tai thì thầm: “Bọn nó tấn công
rồi đó! Hãy bình tỉnh!” Mặc dù hơi run nhưng tôi (tân binh mới tăng
cường hơn một tháng) vẫn cố dán mắt vào màn đêm nhờ ánh sáng hỏa châu
của PB Dù từ hướng Phong Điền bắn lên, rồi những tiếng rên hòa cùng
tiếng hô Xung phong! Xung phong của bọn Vẹm, từng tràng Đại Liên M-60
của thằng Lâm chính xác, từng thây người dựng lên rồi ngã xuống hàng
loạt, tôi và anh Thắng liên tục quăng M-67 nhưng bọn chúng như những con
thiêu thân, lớp nầy ngả xuống lớp khác tiến lên, bọn chúng tuyên bố
trên loa là sẽ xóa sổ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù nhưng chúng tôi rút về tuyến
2, lúc nầy những khẩu 12 ly 7 từ những M- 113 thi nhau xiết cò lấy lại
tinh thần vì bọn Vẹm chưa tràn lên, bọn tôi chiếm lại tuyến 1. Cuộc chơi
tới sáng bọn chúng không chiếm được nên rút, Th/Tá Nguyễn văn Nhỏ TĐP
xuống tuyến và cho bổ sung trung đội 5/93 chen vào tuyến trung đội 2 của
bọn tôi vì đã có một số bị thương và hy sinh.
Khoảng
10g ngày hôm sau bọn chúng tiếp tục nả pháo và đến tối lại tấn công
liên tục 3 ngày đêm nhưng không nuốt trôi Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, anh em cả
2 Đại Đội hy sinh hơn 60, bị thương hơn 80, bù lại bọn CSBV bỏ lại trên
400 xác và hàng trăm vũ khí đủ loại, phóng viên báo Tiền Tuyến đưa hình
lên trang nhất sau trận nầy. Trung úy Lê mạnh Đường được T/Thống Nguyễn
văn Thiệu đáp trực thăng xuống nhà thờ La Vang gắn cấp bậc Đại úy và
tôi thì được lên binh Nhất và là kỷ niệm khó quên dù đã gần 50 năm….”
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không
cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt
đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô
tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một
con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những
tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối
với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một
dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu
trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ
kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không
có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu,
rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại
không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử
động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong
sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con
người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng
đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không
phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như
danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể
buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối
không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván
cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng
trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót
lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp
điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức.
Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ
một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng
cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt
máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng
phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị
động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi
chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản
sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến
đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước
chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những
điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ
đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên.
Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô
vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai
nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến
trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để
xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông
vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm
cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng
ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một
trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi
đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng
chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm.
Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao
vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ
trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà
không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi
trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe
tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã
thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang
cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi
sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn
rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh
em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người
chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc
Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những
chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một
niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn,
để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng.
Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào
bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu
rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã
lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và
một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một
đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu
Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra
khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng
hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị
thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin
với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế,
bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia
đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái
“không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không
bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói
một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một
cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng
được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn
toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra
quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ
ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị
đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm
tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại.
Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây
dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt
của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự
do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi,
dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó,
đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi.
Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng
xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi
giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố
xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng.
Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và
cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì
đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy,
mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học
tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi
có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi
chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh
sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen
với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một
dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê
hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra.
Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con
đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo
một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả
một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong
một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh
khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố
quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt
mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt
khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả
đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Advertisement
Privacy Settings
Một
đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu
mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính
mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại
cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã
hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn
không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975.
Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của
tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay
quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc
gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống
bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ
không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi
như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi
rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn,
và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng
không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người
bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã
nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con
người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết
và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những
quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh,
những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối
trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận
của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một
cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến
trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua
truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng
hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không
thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực
cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng
minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng
oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau
những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau
tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước
vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự.
Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con
đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm
thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê
hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh
diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều.
Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì
đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ
thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để
chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để
biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô
nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi
còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi
ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì
muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những
đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên…
Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà
là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng
thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã
không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn
một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền
bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn
hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an
bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói
không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó
đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm
xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những
niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu
trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
Sau thời gian tập trung tại Quận
đường Điện bàn / QN , tất cả tù tàn binh,trình diện hay bị bắt tại Đà
Nẵng, được đưa lên Trại Kỳ Sơn . Trại Cải tạo Kỳ Sơn , gồm 1 tổng trại
và 4 phân trại , Sĩ quan cấp tá ở trại I , gần mỏ vàng Bông Miêu , trại 2
, nằm sâu về hướng Tây , dành cho Sĩ quan cấp Đại uý, trại 3 và 4 dành
cho cấp trung uý trở xuống ,gần trại 1 và Tổng trại . Anh Võ Vàng nằm
trong trại 1 .Sau thời gian đầu lo xây dựng doanh trại , phát rẫy canh
tác, ổn định nơi ăn chốn ở .
Tháng 5 năm 77 , đợt hoc tập chính trị
được mở ra trên quy mô rộng lớn .Tất cả đều nghỉ lao động và tham dự
100% .. Những buổi học, tất cả tập trung tại hôi trường để nghe cán bộ
chinh trị lên lớp, và sau đó về tổ thảo luận.
Những bài: Đế quốc Mỹ tên sen đầm quốc tế,
kẻ thù số 1 cuả nhân dân ta và loài người tiến bộ trên trái đất . Hệ
thống Xã hội chủ nghĩa ….. Nhưng hóc búa và điên đầu nhất là bài Nguỵ
quân và nguỵ quyền, Tập đoàn tay sai bán nước.
Sau khi ngồi nghe chửi rủa trên hội trường
, trở về tổ phải liên hệ bản thân , tự giác khai ra những viếc đã làm
trong thời gian phục vụ trong quân đội VNCH .Đây là bản án ,tự mình viết
cho mình , ai cũng phãi tìm cho mình một cái tội , Sau đợt hoc tập
chính trị ,có người như bị kiệt sức vì bị những đòn tra tấn cân não .
Nhiều lúc giữa đêm khuya bị gọi lên khung (Bộ chỉ huy) làm việc, cứ tra
đi hỏi lại nhũng họat động đã qua.
Tr/ Tá Võ Vàng là mục tiêu chính ,bọn cai
tù nhắm đến , luôn luôn chúng đặt câu hỏi : Trong quá trình chỉ huy BĐQ .
Trung đoàn trưởng , Liên đội trưởng , anh đã giết bao nhiêu Cán bộ CS
và dân lành , mấy ngày đầu anh trả lời : Trên cương vị chỉ huy , tôi
chưa bao giờ trực tiếp bắn , còn lính dưới quyền ,lúc xung trận ,ai bắn
chậm thì chết , tôi không biết . Bọn chúng đâu có chịu ,bọn chúng quây
anh từ sáng ,tới tối , ngày nọ sang ngaỳ kia , nhưng anh vẫn kiên gan
giữ lời khai , đến lúc đó , bọn chúng mới đem những tờ báo cũ , có ghi
kết quả các trận đánh ra , và tổng kết tổn thất địch ( VC) ,trong khoảng
thơì gian anh Vàng chỉ huy , không dưới 20 ngàn VC phơi thây.Bản án Tử
hình cho anh đã manh nha thành hình . Trong số các vệ binh coi tù, có
nhiều tên mới theo VC sau 30 thang 3/ 75 ,gồm nhiêù thành phần , có tên
rất khát máu , thù hận ,vì có thân nhân , bà con chết trong cuộc chiến ,
nhưng cũng có tên nguyên trước 30 thang 3 là hoc trò của vợ tù , nên
cũng dễ dãi và dễ bị mua chuộc để lấy tin tức . Sau đợt học tập chính
tri,quy mô kéo dài trên một tháng , tất cả tù được lệnh đi lao động trở
lại .
Một
đêm đầu tháng 7 năm 1977 . Bộ chi huy trại 1 có cuộc họp chi bộ đảng ,
bản án tử hình dành cho Tr/Tá VÕ VÀNG đã được tổng trại Kỳ Sơn ký từ
trước, buổi họp nầy, có mục đích tìm ngươì tình nguyện thi hành bản án .
Tên Nguyễn Bốn, tên vệ binh loắt choắt , nhỏ con nhưng khét tiếng ác
độc và khát máu đối vời tù , đứng lên tình nguyện thi hành (tên Bốn nầy
có cha hoạt đông nằm vùng cho VC bi nghĩa quân giết) . Buổi trưa hè ,
tháng 7 năm 1977 , tổ của Tr/tá Võ VÀNG có nhiệm vụ tỉa bắp trong
rẫy,cạnh sông Vàng , ( nói là sông , nhưng thật sự là giòng suối nhỏ
,chảy qua các ghềng đá bị xoi mòn rất đẹp )trong khu vực Mỏ Vàng Bông
miêu, trời đứng bóng , nắng chang chang , tất cả tổ nghỉ lao động kéo
nhau vào bóng mát ,lấy vắt cơm sắn và chút nước mắm cái ra ăn ,thì tên
Nguyễn Bốn xuất hiện với AK trên tay , ra lệnh : Anh Vàng theo tôi lên
đồi nhổ sắn ( củ mì) về bồi dưởng cho cả tổ .
Linh tính báo cho biết việc chẳng lành ,
anh em trong tổ nhao nhao lên : Xin anh cho tôi đi nhổ sắn thay , vì anh
Vàng mấy hôm nay bi kiết lị, yếu lắm . Nhưng tên Bốn vẫn khăng khăng
bắt anh Vàng đứng lên đi lên đồi . Khoảng từ 7 đến 10 phút sau thì một
loạt AK nổ , lát sau tên Bốn trở xuống noí : Các anh lên đem xác tên
Vàng xuống chôn cất , nó giựt súng tôi , nên tôi đã xử lý .
Bọn khốn nạn, lũ hèn nhát đã giết anh một
cách hèn hạ, tại sao chúng lại dựng nên tấn tuồng giết người tay không,
một cách hèn hạ như vậy ??? Vì bản chất chúng là bọn ngươì hèn hạ,bọn đê
tiện , làm việc gì cũng không quang minh, chính đại , hành động của lũ
đầu trộm , đuôi cướp ….Anh đã tức tưởi nằm xuống bên giòng sông Vàng ,
trong khu Mỏ Vàng Bông miêu , như là một định mệnh …..
Anh VÕ VÀNG kính yêu, đã 29 năm (bài viết
2011), ngày Tổ quốc bị bức tử, 27 năm ,ngày anh bị chúng hành hình , một
cách hèn nhát .Thời gian đủ để mọi ngươì mở mắt,nhìn thấy rõ “thiên
đường CS” , thời gian đủ dài để xác thân anh trở về với cát bụi , và em
tin tưởng linh hồn anh đang oai nghi , thanh thản ở cỏi vĩnh -hằng.
Xin hãy cho em một lần được nhắc đến tên
Anh , Anh VÕ VÀNG ,với lòng kính phục và thương tiếc sâu xa , một người
anh, một chiến sĩ QLVNCH kiệt -suất , hy sinh hết tuổi thanh xuân và
cống hiến thân xác cho đại cuộc : Bảo vệ tự do cho Tổ quốc .
Xin anh cho em được đốt nén hương tưởng
niệm anh ,nhân ngày giỗ thứ 27 của anh . Xin anh cho em một lần nữa nhỏ
nước mắt khóc thương Anh.”
Ảnh minh hoạ bên trong một sòng bạc ngày trước (Ảnh: Internet)
Cách nay nhiều năm, qua người bạn lớn tuổi
giới thiệu, tôi gọi điện cho ông M. ở Dallas – một người ở tuổi thất
thập cổ lai hy để nghe vài câu chuyện về thời đỏ đen của ông tại sòng
bạc Đại Thế Giới (Casino Grande Monde) nổi tiếng nhất Sài Gòn cách nay
hơn nửa thế kỷ. Sài Gòn thuở ấy còn có sòng bạc Kim Chung ở khu vực chợ
Cầu Ông Lãnh sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh đóng cửa vào năm
1955 trở thành chợ Dân Sinh). Riêng mảnh đất rộng gần ba hécta thuộc
sòng bạc Đại Thế Giới thì nghe ông M. nói trở thành khu tập võ và múa
lân của các đội võ thuật Chợ Lớn, cho đến sau năm 1975 không biết khu
đất đó được trưng dụng cho công trình gì rồi trở thành Trung tâm Văn hoá
Q.5.
Ông M. kể thời đó đâu phải Sài Gòn chỉ có
hai sòng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung. Còn một sòng bạc không tên nằm ở
khu vực chợ Bình Tây ngày nay chuyên mở các sòng tài-xỉu thu hút hầu
hết người Hoa Chợ Lớn. Ông nhớ hồi thời tướng Bảy Viễn khi ấy làm Đô
trưởng cảnh sát Sài Gòn và được vua Bảo Đại bổ nhiệm làm Tổng trấn Sài
Gòn – Gia Định nắm quyền điều hành sòng bạc Đại Thế Giới vào năm 1952
thì sòng bạc này lúc nào cũng tấp nập người đến tìm vận may. So với sòng
bạc Kim Chung hầu hết khách đánh bạc là dân đen, phu phen thợ thuyền
chợ búa. Còn Đại Thế Giới sang trọng hơn bội phần, đủ mọi hạng khách
nhiều nhất là công chức, sĩ quan và các tay nhà giàu trong nước và cả
triệu phú châu Á vẫn thường ghé qua Sài Gòn làm ăn tìm thời vận qua gái
gú bài bạc. Hàng ngàn bóng đèn màu sáng choang từ trong ra tới ngoài dọc
theo đường Trần Hưng Đạo. Các tiệm ăn, vũ trường nhờ đó được ăn theo,
kẻ tới người đi như một khu vui chơi hào nhoáng.
Khách đánh bạc tới đây, có người lắm của
bạc tiền làm ăn lớn ở Sài Gòn và điền chủ các tỉnh, không hiếm hoa khôi
mệnh phụ phu nhân cũng mò tới. Những giai thoại đầy trên sách báo về các
hoa khôi đam mê cờ bạc được nhiều người nhắc đến như cô Ba Trà về sau
chết không chỗ chôn thân hay người đẹp Hà Thị Tám may mắn trở thành vợ
của Bảy Viễn sau khi ông Diệm cắt quyền kinh doanh các sòng bạc ở Sài
Gòn, dẹp tan Bình Xuyên, Bảy Viễn thoát thân mang gia đình lưu vong sang
Pháp.
Việc
dọn dẹp các sòng bài của ông Diệm, nhất là khu Đại Thế Giới – một ổ
kinh doanh sòng bạc, phòng hút thuốc phiện và mãi dâm làm dân chúng thời
đó vui mừng vì thân nhân, vợ chồng, con cái của họ không còn cơ hội
bước chân đến thiên đường vui chơi nộp tiền cho chủ, vướng vào cảnh nợ
nần cầm cố nhà cửa, có người thắt cổ tự vận, có người nhảy cầu Bình Lợi
chấm dứt cuộc đời đỏ đen. Việc đóng cửa các sòng bài cũng là một mũi tên
bắn trúng hai đích: dứt bỏ “loạn quân” với mục tiêu chính trị; Quét
sạch ổ tệ nạn xã hội đem bình yên cho dân chúng làm ăn. Nhưng dẹp các
sòng bạc công khai thì những con ma mê đánh bạc lại tụ tập những những ổ
đánh bạc chui tổ chức khắp nơi ở Sài Gòn.
Grande Monde – Sòng bạc Đại Thế Giới Trần
đường Gallieni (Trần Hưng Đạo ngày nay) từng làm bao gia đình tan nát
(Nguồn: Manhhaiflickr)
Lần theo chuyện xưa tích cũ trong “Bến
Nghé xưa” của nhà văn Nam Sơn, ngay từ lúc chiếm Gia Định, người Pháp đã
cho phép người Hoa Chợ Lớn thầu sòng bạc để thu ngân sách và làm cho
dân chúng lãng quên chính trị. “Nghị định ngày 26/7/1861cho phép công
khai các sòng bạc ở Chợ Lớn. Đại khái, có nội qui, thí dụ cấm cờ bạc
ngoài đường xá, cấm đàn bà trẻ con vào sòng, có nhân viên cảnh sát kiểm
soát trật tự, định giờ mờ cửa và đóng cửa nhưng chỉ là hình thức. Cuối
năm 1861, lại cho phép mở rộng sòng bạc đến Sài Gòn, rồi năm sau cho
phép ở các tỉnh miền Đông. Đi đôi với sòng bạc, cho phép mở ổ mãi dâm”.
Chính quyền Pháp cho công khai cờ bạc nhằm thu thuế, còn hơn để con bạc
chơi lén lút tệ nạn tràn lan mà ngân khố không có thêm đồng nào.
Tác giả Thượng Hồng viết trong bài “Trùm
tài phiệt đỏ đen Sáu Ngọ”: Sau thập niên 20 của thế kỷ trước, cuộc sống
người dân còn nghèo nên thú vui là trò đỏ đen. Đánh bạc mong đổi đời,
lại vừa thoả tính ngông cuồng như những tay hảo hán Tư Mắt, Sáu Ngọ
trước đó và đương thời của các ông trùm sòng bạc chui ở Chợ Lớn – Sài
Gòn. Bấy giờ thầy Sáu Ngọ nổi danh như cồn, người ta thường có câu cửa
miệng: ‘Cờ bạc mà được như Sáu Ngọ thì hãy nên cờ bạc! Nhờ làm trùm cờ
bạc mà Sáu Ngọ trở thành tỷ phú của đất Sài Gòn. Và Sáu Ngọ đương nhiên
trở thành cái gai trong con mắt của chính quyền, gần như ông trở thành
kẻ đối đầu, thách thức trong khi nhà nước đang bảo hộ các sòng bạc hợp
pháp công khai.
Những sòng bạc do nhà nước dựng lên có quy
mô nhỏ do đó thuế thu vào cũng rất cò con. Trong cuốn “Giai thoại về
các tỷ phú Sài Gòn xưa”, tác giả Thượng Hồng ghi nhận tiếp: “Vào năm
1937, khi Sài Gòn thành lập hai sòng bạc Đại Thế và Kim Chung thì Lâm
Giống người Hồng Kông có cổ phần tại hai sòng bạc lớn ở Macau đã có mặt.
Giai thoại về ông này được thêu dệt nhiều tình tiết ly kỳ. Từ một người
nghèo đánh giày, chạy bàn quán ăn, rồi trở thành trùm cờ bạc y như phim
“Thần bài” của Hồng Kông trở nên giàu có. Nghe nói ông ta đấu thầu được
quyền khai thác sòng bạc Đại Thế Giới với giá 10 triệu đồng (nên nhớ
vào những năm đó, giá một lượng vàng chỉ trên đưới 100 đồng) và chịu
đóng thuế 200 ngàn đồng mỗi ngày cho công quỹ”. Tuy nhiên, ngay từ lúc
mở cửa, khách đánh bạc tới Đại Thế Giới nườm nượp. Theo một tài liệu
khác ở các báo chí thời đó, tiền đóng vào công quỹ tăng lên, 300 ngàn
rồi 500 ngàn đồng một ngày. Ngành kinh doanh cờ bạc trở thành miếng đất
béo bở cho các tay trùm giang hồ mafia dòm ngó cho dù chiến tranh thế
giới lần 2 đang diễn ra, người Nhật vào Việt Nam.
“Trong
suốt Thế chiến thứ 2, khi khắp nơi điêu đứng vì chiến tranh, kinh tế
suy sụp thì Sài Gòn – Chợ Lớn, hai sòng bạc Đại Thế Giới và Kim Chung
vẫn bình yên mở cửa ngày đêm… Lúc Thế chiến chấm dứt, cũng là lúc Lâm
Giống ngự trên đỉnh cao giàu sang. Đến đầu thập niên 50, một ‘khắc tinh’
của Lâm Giống đã loại y ra khỏi cuộc chơi” (Trích “Làm giàu từ Đại Thế
Giới – Thượng Hồng)
Bảy Viễn – bằng các thủ đoạn bạo lực đã đánh bại trùm cơ bạc Ma Cao để giành quyền điều hành sòng bạc Đại Thế Giới (Ảnh tư liệu)
Không ai khác đó là Bảy Viễn, giành lấy
quyền thầu Đại Thế Giới bằng cách chơi súng đạn. Một trái phá được ném
vào Đại Thế Giới giữa lúc đông người sát phát đỏ đen, chết bị thương
hàng chục người. Lâm Giống đành trao quyền lực lại cho Bảy Viễn khi ấy
còn là đầu đảng thảo khấu Bình Xuyên, “Tư lệnh” lực lượng võ trang Bình
Xuyên, chủ sòng bài Đại Thế Giới kiêm… tỷ phú! Sau này khi làm Đô trưởng
Sài Gòn, sòng bạc Đại Thế Giới tổ chức thêm loại hình giải trí cho thêm
phong phú.
Tôi cứ nghĩ casino ngày xưa đẹp lộng lẫy,
có khách sạn ngủ nghỉ, hý trường sân khấu như các casino ngày nay. Nhưng
ông M. nói, chẳng có gì ngoài khu chơi trò xe điện bên trong sau cái
cổng có cảnh sát đứng xét giấy tờ tuỳ thân. Loại trò chơi này dành cho
con nít nhưng người lớn đi đánh bạc Sài Gòn thấy lạ lắm. Đèn màu trên xe
kêu chíp chíp, chạy qua chạy lại, xe này đụng xe kia rầm rầm. Lúc vào
mặt mày người nào người nấy hớn hở niềm vui, sau một hồi ghé mấy sòng
tài xỉu, trở ra ai cũng lặng thinh không nói kèm theo cái mặt đưa đám.
Ông
M. kể tiếp câu chuyện về bản thân mình: Sở dĩ tuần nào tôi cũng lui tới
Đại Thế Giới nhiều năm là do cha tôi có tiệm buôn lụa vải rất lớn ở Sài
Gòn, chỉ cần hỏi tiền là ổng đưa. Tôi ham đến đó một mặt vì không biết
trò gì tiêu khiển cuối tuần, nhậu nhẹt cũng không, thanh niên Sài Gòn
hồi xưa cũng nhậu như điên chẳng khác gì ngày nay người ta cứ ta thán
sao dân Sài Gòn khoái ăn nhậu. Hút sách cũng không trong khi khắp nơi
đầy các tiệm hút thuốc phiện cám dỗ, chỉ cà phê thuốc lá, chơi bài bạc
chút ít cũng không đến nỗi. Vậy mà bước vào thế giới này rồi, hình như
con ma bài nó nhập, thua riết cháy túi, cha tôi giận quá ra lệnh nếu tôi
không bỏ bài bạc, ổng đăng báo từ tôi.
Trong Đại Thế Giới có roulette, hốt me (có
người gọi đánh me), tài xỉu, không thấy có bài lá bài cào, xì dách hay
xì phé, có cả ghi đánh số đề xổ tận Hồng Kông nhưng ít người chơi. Thời
gian sau này không còn các sòng bài thì người chơi bạc hào hứng với số
đề. Hốt me là người ta dùng hột me mà hốt với cái chén sau đó giở ra,
phân thành từng nhóm bốn hạt. Số hạt còn lại tương ứng với các cửa đặt
cược: yêu (1), lượng (2), tam (3), cúc (4). Còn Tài xỉu là chơi 3 hột xí
ngầu với tổng số điểm lớn – nhỏ. Xỉu từ 4 đến 10. Tài từ 11 đến 17,
ngoài ra còn có Bảo: tức là ra ba con giống nhau và vài luật khác nói ra
dông dài. Ba hột xí ngầu được lắc trong cái ống gỗ sơn mài màu đen úp
lên cái dĩa gỗ phẳng mặt. Con xẩm hồ lì nào cũng xinh đẹp, mặc xường xám
xẻ hông, trên ngực áo bên trái đính chiếc khăn voan (không biết làm
dáng hay lau mồ hôi tay), cầm ống lắc đưa tay lên cao lắc lắc, miệng kêu
dẻo quẹo: “Hối… chỏ” (chuẩn bị mở, rồi lại tiếp tục kêu: “Hối tắc…. la”
(khui), con bạc nào thua, cô nàng quơ cây que cào gom đống tiền mặt, ai
trúng cứ thế mà chung, lại tiếp tục ván khác.
Có lần tôi đặt xỉu thua đến sáu lần liên
tiếp, mà con xẩm lắc cứ ra tài. Theo kinh nghiệm, ít ai thua liên tiếp
từ ván thứ bảy trở đi, tôi quyết định dồn hết tiền vào cửa xỉu. Tim tôi
đập mạnh hơn, con xẩm lắc hộp xí ngầu đặt xuống bàn hô mấy tiếng “hối…
tắc… la” mà lòng tôi đau điếng: “lại tài”. Lúc đó tôi đầu tôi choáng
váng muốn ngã xuống xỉu luôn. Sau lần đó, nếu không nhờ cha tôi ra biện
pháp mạnh, chắc tôi đã trở thành con ma bài chết không mồ chôn rồi chứ
đâu có cửa sau này tôi lấy vợ tiếp nhận công việc buôn bán của cha tôi.
Tượng Nữ Thần Tự Do tại thành phố New York.(Photo: www.pixabay.com)
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”(1)
Quả thật vậy, nếu không có tự do thì
con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không
ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản
năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh
thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính.
Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng
đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho
những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong
đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem
là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số
những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến
một đất nước tự do.
Ngày tôi đến Mỹ, cách nay gần bốn thập
niên, lòng tràn đầy hạnh phúc vì đã tìm được vùng đất tự do thật sự.
Đêm ngủ không sợ tiếng chó sủa và tiếng gõ cửa của công an. Ngày đi làm
không sợ ai theo dõi và bắt bớ. Người dân Mỹ có quyền lên tiếng hoặc
biểu tình chống lại các chính sách của chính quyền. Báo chí Mỹ có quyền
chỉ trích các nhà lãnh đạo, kể cả tổng thống. Chính sách di trú của Mỹ
thời ấy mở cửa đón nhận hàng triệu người Việt Nam vào định cư. Không
phải chỉ có người Việt được cho phép nhập cư mà người Lào, người Miên,
và nhiều sắc dân khác trên thế giới cũng vậy. Thời ấy, tôi không nghe
nói chuyện người Mỹ bỏ nước ra đi tìm cuộc sống tự do ở nước khác.
Nhưng mọi thứ đã thay đổi sau mấy thập
niên. Nước Mỹ hiện nay không còn là nơi để con người có thể biến ước mơ
thành hiện thực. Và vòng tay nhân ái của một nước Mỹ năm xưa sẵn sàng
mở rộng cho những ai bị áp bức tìm đến đây để xây dựng cuộc sống mới tự
do và hạnh phúc bây giờ đã khép lại. Ký giả Toria Sheffield của báo
People cho biết hôm 28 tháng 2 năm 2026 rằng trong năm 2025 có khoảng
180,000 người Mỹ rời bỏ đất nước này để đến một nước khác sinh sống. Đây
là lần đầu tiên kể từ năm 1935, số người rời bỏ nước Mỹ nhiều hơn số
người vào đây sinh sống, theo báo Wall Street Journal.(2) Trong khi đó,
ký giả Blane Bachelor của CNN hôm 9 tháng 4 năm 2026 cho biết rằng cứ 5
người Mỹ thì có một người nói là họ muốn rời bỏ nước Mỹ để đến nước khác
sống nếu có cơ hội, và nhiều người nói họ muốn ra đi “vì lý do chính
trị.”(3)
Tại sao người Mỹ muốn bỏ nước ra đi?
Người Mỹ bỏ nước ra đi có giống người Việt bỏ nước ra đi cách nay nửa
thế kỷ không? Việt Nam hiện nay có tự do hơn so với mấy chục năm trước
không?
Việt Nam ngày nay có tự do?
Nhìn tổng thể, Việt Nam ngày nay tất
nhiên khác hẳn bốn năm chục năm trước. Kinh tế được mở cửa và giao
thương được mở rộng ra khắp năm châu bốn biển. Cho nên đời sống vật chất
của người dân trong nước không còn thiếu ăn thiếu mặc như thời chế độ
bao cấp phải “xếp hàng cả ngày” (chữ châm biếm chế độ để diễn dịch cụm
từ xã hội chủ nghĩa) để nhận từng lon gạo, từng chén muối. Thế hệ trẻ em
ngày nay cũng được ăn học để có bằng cấp và khả năng tìm việc làm nên
cuộc sống cũng khá hơn thế hệ cha ông. Mỗi năm Việt kiều hải ngoại đều
gửi về nước cho thân nhân hàng tỉ đô la đã giúp nâng cao mức sống của
người dân trong nước. Viện trợ và đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam tính
bằng bạc tỉ để xây dựng và phát triển đất nước, dù đã lọt vào tay cán
bộ tham nhũng không ít nhưng vẫn còn có thể xây dựng hạ tầng cơ sở và mở
cửa hãng xưởng để cho công nhân Việt kiếm được tiền từ đồng lương rẻ
mạc. Tuy nhiên, kẻ hưởng lợi nhiều nhất là cán bộ và giới tài phiệt. Họ
là thành phần mà người dân gọi là đại gia hay giai cấp tư bản đỏ.
Việc cư trú và đi lại cũng thoải mái
hơn cái thời chế độ kiểm soát hộ khẩu gắt gao và đến đâu cũng phải khai
báo với chính quyền địa phương. Chùa chiền và nhà thờ không những được
tu bổ mà còn nguy nga tráng lệ. Tín đồ các tôn giáo đi lễ chùa và nhà
thờ ngày càng đông, gồm cả những đảng viên cộng sản mà một thời xem “tôn
giáo là thuốc phiện của nhân dân.”(4) Các thương gia giàu có thường đầu
tư vào việc xây dựng những ngôi chùa “hoành tráng” để phục vụ cho mục
đích du lịch và thu lợi nhuận.
35 người tị nạn Việt Nam chờ được cứu trên một chiếc thuyền đánh cá
dài 35 foot (10.668 mét). Họ được cứu vào ngày 15 tháng 5 năm 1984 bởi
tàu chỉ huy đổ bộ của Mỹ USS Blue Ridge cách Vịnh Cam Ranh, Việt Nam,
350 dặm về hướng đông bắc, sau khi lênh đênh trên biển 8 ngày.(Photo: www.pixabay.com)
Theo báo Tiền Phong(5) số ra ngày
15 tháng 12 năm 2024, Việt Nam hiện có 884 tờ báo với 41,000 nhà báo.
Nhìn con số có lẽ người ta không khỏi nghĩ rằng Việt Nam có tự do báo
chí hay tự do ngôn luận. Sự thật là 884 tờ báo chỉ có một ông chủ và đó
là Đảng CSVN. Điều này có nghĩa là 884 tờ báo kia chỉ được viết, loan
tin và nói những gì được ông chủ cho phép.
Hãy đọc báo cáo năm 2026 của Tổ Chức Freedom House và Human Rights Watch để biết Việt Nam có thực sự có tự do hay không.
Báo cáo của Freedom House năm 2026 nói rằng, “Tự
do ngôn luận, tự do tôn giáo, và hoạt động xã hội dân sự đều bị hạn
chế. Chính quyền (CSVN) đã gia tăng kiểm soát việc người dân sử dụng
truyền thông xã hội và internet đối với tiếng nói bất đồng và chia sẻ
thông tin không bị kiểm duyệt.”(6)
Báo cáo năm 2026 của Tổ Chức Human
Rights Watch(7) về Việt Nam cho biết rằng trong năm 2025, chính quyền VN
đã bắt bỏ tù 160 người bất đồng chính kiến trong đó có ít nhất 40 người
bị bắt vì chỉ trích chính quyền. Chính quyền VN cho đến nay vẫn chưa
phê chuẩn Điều 87 Về Tự Do Lập Hội Và Bảo Vệ Quyền Lập Hội trong Công
Ước Của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế, dù đã cam kết làm thế. Cho nên Việt
Nam không có nghiệp đoàn độc lập, không có báo chí độc lập. Chính quyền
VN đã ngăn cấm có hệ thống các nhà hoạt động cho các quyền căn bản, các
bloggers, những nhà bất đồng chính kiến và thân nhân của họ đi lại trong
nước và ra nước ngoài, và còn quản thúc các nhà hoạt động vào các sự
kiện được xem là nhạy cảm chính trị. Chính quyền VN đã hạn chế việc thực
hành tôn giáo thông qua luật pháp, các đòi hỏi ghi danh xin phép và sự
giám sát. Các nhóm tôn giáo phải xin phép chính quyền và phải hoạt động
dưới sự kiểm soát của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc. Các
nhóm tôn giáo không được chính quyền thừa nhận thì bị dán nhãn là “tà
đạo.”
Nói chung, nếu nhìn từ bề ngoài thì
Việt Nam ngày nay đã thay đổi nhiều và là một trong những nước phát
triển nhanh, nhưng nếu nhìn vào mức thu nhập bình quân tính theo đầu
người thì Việt Nam nghèo hơn Tân Gia Ba, Nam Dương, Thái Lan và Mã Lai
cùng là các nước trong khối ASEAN với Việt Nam, theo thống kê năm 2026
của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và thống kê năm 2024 của Ngân Hàng Thế
Giới (World Bank).(8) Còn về tự do thì Việt Nam chưa thực sự có tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo.
Nỗi bất an của di dân ở Mỹ
Ngày đầu tiên tôi đi làm ở Mỹ là một
tuần sau khi tôi đặt chân tới thành phố New York từ trại tị nạn Bataan ở
Phi Luật Tân cách nay gần 40 năm. Tôi còn nhớ rõ cái đêm ấy, sau khi
làm việc 8 tiếng tại một nhà hàng Nhật ở quận Manhattan, New York, khi
ra về tôi không biết làm sao để lấy tàu điện nào về nhà ở quận Bronx.
May quá, một chàng Mỹ đen trạc tuổi làm chung với tôi cũng ra về và anh
đã mua một ‘token’ rồi đưa tôi tới cổng xe subway số 4 để tôi đi về nhà
lúc gần 1 giờ sáng. Đó là ấn tượng khó quên trong đời tôi về lòng tử tế
của người Mỹ da đen. Có thể anh này sinh ra ở Mỹ nhưng chắc chắn tổ tiên
ông bà của anh là người di dân. Hầu hết người di dân khi đến Mỹ đều
chăm chỉ, cần cù học hỏi và làm việc vì họ thấy được giá trị vô song của
cuộc sống tự do. Mà nói thật, nước Mỹ này có ai không là di dân hay con
cháu của di dân, dù họ là người da đỏ, da trắng, da đen hay da vàng?
Chỉ là kẻ đến trước, người đến sau thôi.
Vậy mà thời đại ngày nay, dưới chính
quyền của Tổng Thống Donald Trump đã và đang thực hiện chính sách di trú
khắc nghiệt và tàn bạo để trục xuất hay bắt bỏ tù tất cả người nhập cư
không có giấy tờ hợp lệ. Họ bắt giam cả những công dân Mỹ, những người
có giấy tờ hợp lệ sinh sống ở Mỹ. Ông Trump nói ông trục xuất những kẻ
tội phạm, những người buôn người và ma túy, nhưng theo ký giả Camilo
Montoya-Galvez của CBS News hôm 9 tháng 2 năm 2026 nói rằng chưa tới 14%
người bị cơ quan ICE của ông Trump bắt là những tội phạm bạo lực.(9)
Trong thông cáo báo chí phổ biến này
19 tháng 2 năm 2026, các Dân Biểu Liên Bang Judy Chu, Pramila Jayapal,
Zoe Lofgren và Ayanna Pressley cho biết rằng từ tháng 1 đến tháng 10 năm
2025, chính quyền Trump đã trục xuất 46 người Cam Bốt, 175 người Lào,
và 676 người Việt Nam. Nhiều người trong số đó đã bị còng tay và chân
trên máy bay suốt hơn 50 giờ tới nhiều nước mà họ chưa bao giờ đặt chân
tới như Sudan và Eswatini.(10)
Các chiến dịch trấn áp di dân của
chính quyền Trump trên khắp nước Mỹ trong thời gian qua đã tạo ra một
làn sóng hoang mang, sợ hãi và khủng hoảng cho các cộng đồng di dân. Họ
không dám ra khỏi nhà. Họ bỏ việc làm. Họ thiếu thực phẩm, thiếu thuốc
men, thiếu đủ thứ tiện nghi của đời sống. Ngay cả trốn trong nhà, các di
dân cũng sợ nhân viên ICE đập cửa xông vào bắt đi. Hình ảnh của di dân
Mỹ gốc Hmong tên là ChongLy Thao bị nhân viên ICE đột nhập vào nhà không
có trát tòa để bắt đi giữa trời lạnh giá mà chỉ có mỗi cái quần xà lỏn
và chiếc khăn nhỏ khoác trên vai hôm 18 tháng 1 năm 2025 tại Minnesota
là một ác mộng đối với di dân.
Trước khi có các chiến dịch bố ráp di
dân của chính quyền Trump, mỗi buổi sáng đi bộ tập thể dục ngoài đường
tôi đều không mang theo giấy tờ tùy thân vì nghĩ không cần. Nhưng một
hôm trên đường đi về nhà, tôi bắt gặp nhiều nhân viên ICE và xe cộ không
bảng số của họ đang bố ráp một chung cư, trong khi ngoài đường nhiều xe
cộ khựng lại và một số người từ các khu nhà gần đó đang hối hả chạy
tới, thì hôm sau tôi phải đem theo giấy tờ tùy thân khi đi bộ ngoài
đường. Tôi có cảm giác cái không khí này có vẻ giống cảnh ban đêm thì sợ
công an gõ cửa và đi ra đường thì sợ công an chận hỏi giấy tờ khi còn ở
Việt Nam hơn 40 năm trước.
Tự do bị siết trong thời đại Donald Trump
Chính quyền Trump từ khi mới vào Bạch Ốc lần hai đến nay đã thực hiện nhiều chính sách hạn chế quyền tự do của người Mỹ.
Phân tích gia về chính sách của chính
quyền là Sydney Bryant(11) hôm 2 tháng 4 năm 2026 cho rằng nhiệm kỳ hai
của chính phủ Trump đã biểu lộ sự thù địch rõ rệt đối với việc người Mỹ
thực hiện quyền bất đồng của họ. Ông Trump đã nhắm tới những đối thủ
chính trị với các cuộc điều tra và nỗ lực truy tố, điều động quân đội và
các nhân viên liên bang tới nhiều thành phố Mỹ, thổi bùng căng thẳng
giữa các cộng đồng, khuyến khích bạo lực nhà nước chống lại những người
biểu tình, và còn gây tổn thương những người ngoài cuộc. Trump viện cớ
những cuộc biểu tình chống ICE để đưa Vệ Binh Quốc Gia và Thủy Quân Lục
Chiến vào thành phố Los Angeles, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, Portland,
Memphis, Chicago, Minneapolis… Tại Minneapolis vào ngày 7 tháng 1 năm
2026 nhân viên ICE đã bắn chết cô Renée Nicole Macklin Good, một công
dân Mỹ và vào ngày 24 tháng 1 năm 2026 nhân viên ICE lại bắn chết y tá
Alex Pretti, cũng là công dân Mỹ.
Cũng theo Sydney Bryant, sau khi Bản
Ghi Nhớ An Ninh Quốc Gia Của Tổng Thống (National Security Presidential
Memorandum NSPM-7) được công bố ngày 25 tháng 9 năm 2025, Trump và
Stephen Miller bắt đầu nhắm đến các tổ chức chính trong phong trào tiến
bộ, như nhóm tổ chức cơ sở Indivisible và nhóm từ thiện Open Society
Foundation, cho rằng họ đã ủng hộ bạo lực. Nhiều dân biểu Cộng Hòa còn
nhắm đến các tổ chức phi lợi nhuận. Các dân biểu Cộng Hòa Mark Green
(CH-TN), Josh Brecheen (CH-OK) mở cuộc điều tra vào các tổ chức phi
chính phủ, gồm các tổ chức tôn giáo cung cấp các dịch vụ nhân đạo quan
trọng cho các di dân và người tị nạn. Chính quyền Trump còn đe dọa hoặc
kiện các công ty luật đại diện cho các kẻ thù của ông. Điều này làm cho
các công ty luật và các luật sư sợ bị trả thù.
Chính quyền Trump còn đe dọa các cơ
quan truyền thông độc lập tại Hoa Kỳ, theo Konstantin Zhukov, phụ tá
giáo sư về kinh tế học tại Đại Học Indiana University và hiện đang
nghiên cứu về kinh tế chính trị của chiến tranh và độc tài.(12) Ông nêu
ra trường hợp Donald Trump kiện báo The New York Times đòi trả 15 tỉ đô
la vì cho rằng báo này đăng nhiều bài được cho là “có ác ý, và kiện báo
The Wall Street Journal đòi trả 10 tỉ đô la vì liên quan đến lá thư mà
ông Trump được cho là đã ký trong sổ của Jeffrey Epstein. Cả hai vụ kiện
đều bị tòa bác bỏ.
Konstantin Zhukov còn cho rằng chính
quyền Trump đã đe dọa quyền tự do ngôn luận vì sau cái chết của Charlie
Kirk, khi lấy cớ “phe cực tả kích động bạo lực” để kêu gọi trấn áp điều
mà họ gọi là “phát biểu thù hận,” để đe dọa các nhóm tự do, và xem
Antifa như là tổ chức khủng bố nội địa. Giáo sư Konstantin kết luận
rằng, “động thái sau cùng trên là đặc biệt có vấn đề vì đẩy Hoa Kỳ
ngày càng gần hơn tới đặc tính hành xử của những chính quyền độc tài. Sự
mơ hồ của việc chỉ tên này đe dọa sẽ đàn áp quyền tự do phát biểu và
chống đối với chính quyền Trump.”
Giám Đốc của Tổ Chức Phóng Viên Không
Biên Giới (RSF) thuộc khu vực Hoa Kỳ Clayton Weimers đã nêu ra 8 cách mà
ông Trump dùng để hạn chế tự do báo chí.(13)
1/ Giấy phép vào Bộ Ngoại Giao Mỹ ngày
càng ít ỏi: Vào ngày 17 tháng 11 năm 2025, Bộ Ngoại Giao cập nhật các
chính sách để cho phép các ký giả tường thuật bên trong tổng hành dinh
tại Harry S. Truman Building ở Thủ Đô Washington. Các phóng viên phải
nạp đơn xin giấy phép vào trước một ngày diễn ra sự kiện bên trong tòa
nhà này. Điều này làm khó các ký giả không thường trực làm tin tại Bộ
này.
2/ Một số khu vực trong Bạch Ốc hiện
cấm báo chí: Ngày 31 tháng 10 năm 2025, chính phủ Trump loan báo các hạn
chế mới đối với các ký giả làm việc bên trong Bạch Ốc.
3/ Các phóng viên tạm thời bị ngăn
chận vào tòa án di dân liên bang: Ngày 28 tháng 10 năm 2025, hai phóng
viên làm việc cho Capital News Service đã bị đuổi ra khỏi tòa án di dân
tại Maryland cho đến khi họ nhận được giấy phép từ chính phủ Trump để
vào quan sát phiên tòa xử.
4/ Ký giả bị trục xuất: Mario Guevara,
ký giả nói tiếng Tây Ban Nha có quê quán từ El Salvador đã bị trục xuất
khỏi Mỹ vào ngày 3 tháng 10 năm 2025, vì đã quay phim cuộc biểu tình
chống các cuộc bố ráp di dân tại tiểu bang Georgia vào ngày 14 tháng 6
năm 2025.
5/ Ngũ Giác Đài áp dụng các hạn chế
báo chí: Vào ngày 19 tháng 9 năm 2025, các viên chức quốc phòng tại Ngũ
Giác Đài đã công bố các quy định mới cho các ký giả phải tuân theo khi
làm tin. Các quy định gồm việc không được đưa bất cứ tin nào mà không
được Bộ Trưởng Pete Hegseth chấp thuận, ngay cả nó đã được giải mật. Các
cơ quan truyền thông báo chí như ABC News, AP, Fox News và Newsmax… đều
đồng loạt từ chối ký vào các quy luật này.
6/ Ký giả báo Wall Street Journal bị
cấm lên Air Force One: Sau vụ báo WSJ đăng chuyện tương tác trong quá
khứ của Trump với Jeffrey Epstein, tổng thống đã cấm các phóng viên của
báo này bay cùng với ông trên máy bay Air Force One.
7/ Hạn chế cấp visas cho các ký giả
ngoại quốc: Vào tháng 8 năm 2025, Bộ Nội An Mỹ đã đề xuất quy định mới
sẽ hạn chế số thời gian mà các ký giả ngoại quốc có thể sống và làm việc
lại Mỹ.
8/ Hãng thông tấn Mỹ AP bị cấm dự các
sự kiện tại Bạch Ốc vì không sửa tên “Vịnh Mexico” thành “Vịnh America”:
Vào ngày 11 tháng 2 năm 2025, Bạch Ốc đã cấm nhân viên của AP không
được dự các sự kiện vì hãng thông tấn này tiếp tục xài chữ “Gulf of
Mexico,” mà TT Trump đã sửa thành “Gulf of America” trong một sắc lệnh
hành pháp.
Đâu là điểm dừng?
Mục Sư Martin Luther King, Jr., nhà
đấu tranh cho dân quyền và nhân quyền Mỹ, khôi nguyên Nobel Hòa Bình năm
1964, đã từng nói rằng, “Tự do không bao giờ được kẻ áp bức tự nguyện ban cho; nó phải được người bị áp bức đòi hỏi.”
Câu nói ấy có một giá trị vô song vì
nó được thốt ra từ một con người dám đem cả đời mình để tranh đấu cho tự
do đến hơi thở cuối cùng. Câu nói ấy còn mang sức mạnh của một thông
điệp cảnh giác mọi người rằng, cho dù là công dân của nước Mỹ, chúng ta
cũng phải nỗ lực không ngừng để đấu tranh và đòi hỏi sự tự do, thì mới
có được nó.
Cuộc hành trình tìm tự do, vì vậy, không có điểm dừng.
(9) Camilo Montoya-Galvez, Less than
14% of those arrested by ICE in Trump's 1st year back in office had
violent criminal records, document shows -- www.cbsnews.com.
(10) Reps. Chu, Jayapal, Lofgren, & Pressley to Reintroduce the Southeast Asian Deportation Relief Act of 2026 -- https://chu.house.gov.
(11) Sydney Bryant, Protecting Constitutional Freedoms of Speech and Assembly During the Second Trump Administration -- https://www.americanprogress.org.
(12) Konstantin Zhukov, How Trump’s attacks on press freedom and dissent follow the authoritarian playbook – https://azmirror.com.
(13) Clayton Weimers, USA: 8 ways Trump is shrinking the space for press freedom – literally -- https://rsf.org.
Câu thơ xưa “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường”
bổng trở thành một tiếng vọng buồn thấm thía khi ta nhìn lại những mảnh
đời, mảnh tình của người Miền Nam sau cuộc đổi đời. Giữa cơn xoáy của
thời loạn, bao cặp vợ chồng đang yên ấm bỗng bị đẩy vào những ngã rẽ
không ai kịp chọn lựa, kẻ rời trước người đi sau. Có những người nắm tay
nhau run rẩy vượt biển, chọn con đường lưu lạc, dìu nhau qua biển lớn
và may mắn đến được bến độ. Có người lạc mất nhau giữa đường đời; có
những mảnh tình rơi lại giữa hành trình- như những chiếc lá bị cuốn
trong phong ba – giữa biển đêm, giữa những nơi xa lạ trên xứ người. Và
cũng có những người buộc phải buông tay nhau – không vì hết thương, mà
vì cuộc sống quá khắc nghiệt để một mình gánh hết. Và cũng có những cuộc
đoàn tụ muộn màng, khi hai người gặp lại nhau sau mười, hai mươi năm –
nhưng mỗi người đã thuộc về một gia đình khác. Những câu chuyện ấy –
không có câu chuyện nào giống với câu chuyện nào – dù đau bao nhiêu,
cũng không mang theo lời trách móc. Chúng chỉ cho thấy con người nhỏ bé
đến nhường nào trước những biến động lớn. Và trong sự mong manh ấy, ta
lại thấy rõ hơn tình người, sự chịu đựng, và những cố gắng âm thầm để
sống tiếp, dù trái tim còn mang một vết cắt không bao giờ liền hẳn. Gọi
là vết thương thế kỷ của người di tản. Là kiếp sống của người lưu vong.
“Buồn nào cho ai – Ngày tay phải chia tay
Lệ này cho ai – Ngày chân rẽ đôi nơi…
*Tôi có một đàn anh cùng xóm. Anh là Thiếu
tá, Tiểu Đoàn Trưởng một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân vào giữa năm 1974.
Ngày Anh đi tù CS, vợ Anh ở chung nhà với cha mẹ mình cùng 2 con gái, 3
tuổi và 1 tuổi. Ngày được cho về tại địa chỉ cũ “Bàn Cờ” trên tờ giấy
thả tù, lòng Anh xôn xao, nhưng căng thẳng chờ đợi một bất hạnh. Anh e
dè, ngở ngàng bước vào nhà lúc xế trưa. Hai con gái Anh, nay 13 và 11
tuổi nhìn Anh xa lạ, hoàn toàn không biết Anh là cha ngay cả khi Anh nói
rỏ tên họ và kêu tên chúng. Còn vợ Anh đâu? Mẹ vợ cho biết nàng mang 2
đứa con nhỏ sau này về chơi bên gia đình chồng mới, sau khi nhận giấy
báo Anh sẽ được thả về trong mấy ngày gần đây. Anh chết đứng như trời
trồng giữa căn nhà, tê tái bên cạnh chiếc bị cũ chứa vài bộ quần áo rách
do anh em bạn tù cho, lặng người nhìn 2 con gái của mình, trong khi
nghe những lời phân bua của mẹ nàng. Em nó và cả nhà đều nghĩ Anh đã
chết trong tù. Hoặc giả, nếu còn sống, cũng chẳng biết khi nào được cho
về. Nhà ta càng lúc càng túng thiếu, tình trạng rất bi đát, chạy đâu cho
ra tiền. Anh đi tù có để lại tiền bạc gì đâu! Vợ con Anh cần tiền để
sống, đó là chưa kể chuyện bị thôi thúc đi kinh tế mới. Cuối cùng em nó
phải nghĩ đến chuyện sống còn và nuôi con. Nó mới đành phải lấy cái
thằng yêu nó lúc 2 đứa cùng chung trường trung học với nhau. Anh cứ tạm ở
đây đi. Nhưng xin Anh xữ đẹp và hiểu là chúng đã có 2 con với nhau và
nuôi luôn cả 2 con của Anh nữa…
Sét đánh ngang tai. Đất trời sụp đổ. Điều
lo âu sợ hải nhất của người cải tạo trong những ngày tháng tù đày vô
vọng đã phơi bày. Nổi tủi nhục bị phản bội ê chề. Không một đắn đo và
trong một thôi thúc nghịch lý, Anh quyết định rời nhà dù chưa biết mình
sẽ đi đâu. Một quyết định nhanh chóng và sắc bén, như Anh đã từng làm
nhiều lần trong lâm nguy khi Anh còn chỉ huy cả trăm quân trong trận
mạc. Anh ngập ngừng đến vuốt đầu 2 con rồi lặng lẻ bước ra. Thêm một lần
nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua
trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang,
nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một
con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà
cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào
một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải. Anh bỏ đi trong hờn tủi, mang theo
vết thương nghiệt ngã.
Nhưng rồi thời gian, như một dòng nước âm
thầm, đã gột rửa trong anh những cay đắng. Đến Mỹ theo diện HO, khi nhìn
hai con gái lớn lên, khi nghĩ về những quyết định có thể sai lầm của
chính mình trong chiến tranh, những binh lính của mình kẻ chết người bị
thương, Anh hiểu rằng không ai trong cuộc đời này hoàn toàn vô tội hay
hoàn toàn có lỗi. Người vợ cũ của Anh cũng chỉ là một người mẹ đơn độc
giữa thời cuộc nghiệt ngã. Thế là, thay vì tiếp tục sống trong bóng đêm
của trách móc oán hận, Anh chọn cách mở lòng. Anh đã tha thứ cho chính
mình và cho người vợ năm xưa, để nỗi đau của hai bên nhẹ xuống. Anh
khuyến khích hai con gái bảo lãnh mẹ, người chồng sau của mẹ, và hai đứa
em cùng mẹ khác cha sang đoàn tụ. Một gia đình từng tan nát bởi chiến
tranh, bởi hiểu lầm… cuối cùng lại ngồi chung một bàn ăn nơi đất Mỹ.
Không phải ai cũng làm được điều đó. Ta gọi đó là tình thương độ lượng.
***
Anh là Đại Đội Trưởng một Tiểu Đoàn
Nhảy dù, đơn vị của Anh được lệnh rút về Vũng Tàu từ Long Khánh. Đến khi
lệnh trên cho phép mọi binh sĩ vượt thoát ra biển, đơn vị Anh không còn
phương tiện, đành thuê những chiếc thuyền của ngư phủ làm phương tiện
ra khơi đến các thuyền lớn đang chờ đợi ngoài xa. Trong dòng người hỗn
loạn ấy, một người đàn ông bình dị, có con gái 16 tưổi đi theo phụ cha,
đã dùng ghe của mình giúp nhóm binh sĩ của Anh. Giây phút cuối khi chiếc
tàu lớn vừa áp sát – và có lẽ do đã quan sát thấy Anh là một người chỉ
huy trách nhiệm, tư cách, lo cho các binh sĩ thuộc quyền trọn vẹn –
người cha bất ngờ ôm con gái mình lên, đặt vào tay người sĩ quan trẻ.
Không thể nói nhiều, ông chỉ kịp gởi gắm một lời: “Nhờ anh…chăm sóc con
bé giùm tôi”, với tất cả lòng tin tưởng của mình.
Cô gái mười sáu tuổi – bơ vơ, sợ hãi, phải
xa cha ngay trước mắt, xa gia đình không một tính toán trước – chỉ còn
biết bám vào người sĩ quan mà cha mình đã chọn gửi gắm. Anh, giữa trách
nhiệm của một người lính và lòng trắc ẩn của một con người, đã che chở
cho cô suốt hành trình vượt biển, rồi những ngày dài ở trại tị nạn, rồi
những tháng năm đầu tiên đầy chật vật trên đất Mỹ.
Hai năm sau, khi cô tròn mười tám tuổi, họ
quyết định nắm tay nhau bước vào một cuộc đời mới. Không phải vì một
lời hứa, không phải vì món nợ ân tình, mà vì giữa những mất mát của thời
cuộc, họ đã tìm thấy nơi nhau một mái nhà.
Đến hôm nay, họ vẫn sống hạnh phúc bên
nhau. Con cái thành đạt. Và mỗi khi nhắc lại câu chuyện cũ, người ta
không thấy bi thương, mà chỉ thấy một điều rất lạ lùng: giữa một cuộc
chia lìa lớn của dân tộc, vẫn có những mảnh đời được ghép lại bằng sự tử
tế và một lời hứa.
*Một đồng môn của tôi, vào Quân Y sau tôi
một năm, như bao bác sĩ đành khoát áo quân nhân khi đất nước cần, cũng
chịu cảnh tù đày của CS. Mấy năm sau xuất trại, Anh đem gia đình gồm vợ
và 2 con trai về sống tại Rạch Giá, cốt tìm đường vượt biên. Sau nhiều
bắt bớ, nguy hiểm, nước biển vào ngập thuyền, thuyền bị tắt máy giữa đại
dương – nhưng máy bỗng chạy được sau những lời cầu nguyện thấu tận
trời, Anh và con trai lớn đến được Thái Lan. Mỗi bước chân của Anh đều
in dấu của mất mát. Từ trại tị nạn, anh nghe tin vợ mình đã có người
khác. Sang đến Mỹ, Anh vừa rửa chén nhà hàng, vừa làm phụ tá phòng mổ,
vừa gửi từng đồng lương ít ỏi về nuôi vợ con và làm giấy tờ bảo lãnh.
Nhưng rồi người vợ ấy lại bỏ đứa con út ở lại, nhẫn tâm vượt biên theo
một người đàn ông khác – để lại cho Anh thêm một vết thương khó gọi
thành tên.
Thế nhưng điều đẹp nhất lại nằm ở đoạn sau
của cuộc đời Anh. Anh không để nỗi đau biến mình thành con người cay
nghiệt. Anh học lại nghề cũ, trở thành bác sĩ, rồi gặp một người vợ mới
hiền lành, tử tế, có ăn học, vừa đẹp người lại vừa đẹp tính, biết bù đắp
những thiếu hụt của đời Anh. Họ có thêm hai con trai. Và điều khiến bạn
bè cảm động nhất là: bốn đứa con – hai của vợ trước, hai của vợ sau –
lớn lên trong cùng một mái nhà, yêu thương nhau như ruột thịt, thành đạt
và sống hiền hòa.
Một gia đình từng bị chiến tranh chia lìa
xé nát, cuối cùng lại được hàn gắn bằng sự bao dung của một người đàn
ông đã đi qua quá nhiều bão tố. Trong những câu chuyện của thời tao
loạn, có những mảnh tình tan vỡ, nhưng cũng có những tấm lòng biết dựng
lại cuộc đời bằng sự tử tế — và chính những tấm lòng ấy mới là điều
khiến người ta còn tin vào nhau.
***
Chị và Anh yêu nhau khi chị là sinh
viên năm thứ nhất và Anh là một sĩ quan Nhảy Dù hiên ngang với bộ quân
phục hoa dù và nón Beret đỏ. Giữa những ngày cuối cùng của cuộc chiến,
khi Khánh Dương đỏ lửa và những đoàn quân rút lui trong tuyệt vọng, chị
nhận tin người yêu mất tích. Tin ấy đến như một tiếng sét, cắt đôi tuổi
trẻ của chị, để lại trong lòng một khoảng trống không gì lấp được. Ngày
30 tháng 4, như một người máy chị theo gia đình di tản, ra đi mà lòng
quặn đau, bất định, biết rằng từ đây mọi người vĩnh viễn mất nước, và
chị, vĩnh viễn xa rời và mất luôn cả Anh.
Qua đến Fort Chaffee, Arkansas, chị vừa lo
lắng vừa hân hoan biết mình đang mang trong người giọt máu của người
yêu. Những tháng ngày đầu nơi xứ lạ, chị sống như một chiếc bóng. Nhiều
lần chị nghĩ đến cái chết, nhưng rồi bàn tay nhỏ bé đang thành hình
trong bụng đã giữ chị lại với cuộc đời. Chị sống vì đứa con, và vì một
hy vọng mong manh rằng một ngày nào đó sẽ có tin tức của anh.
Nhưng cuộc đời không chờ đợi nỗi đau của
một người đàn bà trẻ. Chị phải lấy chồng, người Mỹ, để có chỗ dựa, để
nuôi con, để tiếp tục…chờ đợi. Mãi đến gần hai mươi năm sau, khi con gái
chị đang là sinh viên năm thứ nhất đại học, chị mới có được địa chỉ của
người yêu xưa. Chỉ cần biết Anh vẫn còn sống, chị quyết định về Việt
Nam, dù đang trong giai đoạn cuối của ung thư vú, mang theo trái tim đã
chai sạn vì thời gian, nhưng vẫn run rẩy như cô gái năm nào. Khi bước
vào nhà ở một nơi đèo heo hút gió xa hẵn thị trấn nhỏ, trước mắt chị là
một hình hài với chân phải cụt lên tận đầu gối, áo quần xốc xếch, tóc
tai bung xung. Chị bật khóc chạy đến gần, trong một thoáng kịp nhìn thấy
hai vũng mắt lõm sâu không có tròng mắt. Chị đột nhiên khuỵu người
xuống, như thể toàn lực dành cho chuyến đi bỗng cạn kiệt. Cùng lúc ấy,
bóng một người đàn bà đi nhanh từ bếp nâng chị dậy.
Anh bị thương nặng ở chân trên đường rút
quân, cố gắng lết xa khỏi trận chiến và ẩn núp trong bụi rậm. Ngày hôm
sau, địch tìm thấy Anh và bắt Anh làm tù binh. Anh nghĩ vết thương ở
chân phải có thể lành nếu được chữa trị với trụ sinh và đăng bột, nhưng
tên y sĩ trại tù chọn cách dễ là tháo khớp gối. Sau đó Anh còn bị đạn nổ
trong khi nhóm lửa rừng sưởi ấm ở trại tận bên Cao Miên, khiến cả 2 con
mắt của Anh bị hư nặng tuy vẫn nhìn thấy rất mờ. Vì vậy Anh được thả
cho rời trại sớm. Trên đường khổ sở, một mình thất thểu về lại làng phố,
Anh bỗng gặp một người đàn bà chưa một lần quen biết, hiện tại là vợ
của Anh, đem Anh về nhà săn sóc. Chồng trước của bà là một người lính
Địa Phương Quân tử trận 2 năm trước ngày mất nước. Trong vài năm sau đó,
đôi mắt Anh làm độc kinh niên nên bác sĩ đành phải múc bỏ cả hai bên.
Chị lặng yên ngồi nghe, tiếng được tiếng không, tê tái cõi lòng, nhớ lại năm xưa có lần Anh thì thầm bên chị, “may ra Anh bị thương thì chúng mình mới có thể trởthành vợ chồng.” Thế
nhưng tuyệt đối chưa một lần chị nghĩ đến Anh có thể bị thương trong
cuối cuộc chiến, và cũng chưa hề nghĩ Anh đã phải trải qua những giai
đoạn khổ sở cùng cực như vậy. Từ một nam nhân oai hùng ngày xưa, nay Anh
là một phế nhân với những vết thương tàn phá nặng nề trên cơ thể. Đôi
mắt ngày xưa, nơi chị thường hay nhìn vào để tìm hình ảnh của tình yêu
và sức sống của tuổi trẻ mình, nay chỉ là 2 mí mắt nhíp gần nhau nằm sâu
trong một khoảng màu trắng ở giữa. Giờ đây chị mới hiểu vì sao em gái
của Anh tránh không cho chị biết nhiều về tình trạng của Anh. Chị bỗng
cảm thấy gần gủi với vợ của Anh, thầm cám ơn rằng Ơn Trên sắp đặt cho
Anh tìm được ánh sáng dịu hiền giữa đường qua sự săn sóc, cứu vớt, nuôi
nấng, bao bọc, che chở, yêu thương của người vợ này. Như một Bà Tiên
hiện ra nguyên vẹn để dẫn dắt, cưu mang, nâng đỡ chàng Thiên Thần Mũ Đỏ
của chị trong sa cơ thất thế, khi cánh dù bị chà đạp, tan tác trong cuộc
đổi đời.
Qua một đêm cùng nhau tâm sư, chị thấy
lòng mình nhẹ đi, như thể cuối cùng chị đã tìm được câu trả lời cho
những năm dài chờ đợi. Chị kể chuyện về đứa con gái của mình, để lại cho
vợ Anh tất cả số tiền mang theo. Nhưng tuyệt nhiên chị không hề hé mở
cho biết chị đang bị ung thư giai đoạn cuối. Khi trở lại Mỹ, chị nói hết
sự thật cho con gái biết về cha và dặn con hãy về thăm cha – mang theo
chiếc xe lăn và phần lớn tiền tiết kiệm của mẹ. Sau đó không lâu chị qua
đời. Một đời người, từ tuổi trẻ đến lúc nhắm mắt, chỉ có một mối tình –
mối tình không trọn, nhưng sâu đến tận đáy tim.
Giữa những câu chuyện tang thương của thời
tao loạn, có những mảnh tình không bao giờ được sum họp, nhưng lại sáng
lên bằng sự hy sinh thầm lặng của một người đàn bà đã yêu đến giây phút
cuối cùng.
**Trong những câu chuyện tình yêu bị thời
cuộc xé nát, có những mảnh đời không chỉ tan vỡ mà còn bị giam hãm trong
một thứ bóng tối không có tên. Như chuyện của nữ sinh viên năm xưa –
dịu dàng, học giỏi, được nhiều bạn bè thương mến. Người từng theo đuổi
cô, một chàng sinh viên từng xuống đường trong biến động Miền Trung,
trốn vào bưng, trở về Huế trong những ngày Mậu Thân với một khuôn mặt
khác: lạnh lùng, tàn nhẫn, sẵn sàng giết cả những người từng là bạn học.
Sau 1975, trong men chiến thắng và quyền
lực, anh ta quay lại ép buộc cô phải lấy mình. Không phải bằng tình yêu,
mà bằng lời đe dọa: nếu cô từ chối, cha mẹ sẽ bị tịch biên nhà cửa, cha
sẽ bị bắt đi tù. Không có lựa chọn, cô đành gật đầu – không phải để cứu
mình, mà để cứu gia đình. Suốt mấy chục năm, cô sống một đời lặng lẽ
như chiếc bóng trong chính ngôi nhà của mình. Ít bạn bè, ít tiếng cười,
ít bước chân ra ngoài. Người chồng quyền thế đứng trước thiên hạ như một
kẻ chiến thắng, còn cô thì sống như một người bị giam trong chiếc lồng
vô hình của nỗi sợ và bổn phận.
Khi cô mất, những người bạn cũ – những
người đã biết câu chuyện của đời cô – không khóc òa, mà thở ra một tiếng
thật dài. Một tiếng thở mang theo nỗi thương xót, nhưng cũng là một
niềm an ủi: cuối cùng, cô đã được phóng sinh. Cuối cùng, cô đã thoát
khỏi những năm tháng bị dằn vặt, khỏi cuộc hôn nhân không có tình yêu,
khỏi cái bóng quyền lực ma quỷ đè lên đời mình.
Trong vô số mảnh tình của thời tao loạn,
có những mảnh không tan vì chia ly, mà tan vì bị bóp nghẹt. Và đôi khi,
cái chết lại là cánh cửa duy nhất mở ra sự giải thoát cho một kiếp người
hiền lành.
***
Trong những ngày cuối của cuộc
chiến, khi mọi thứ dần dần sụp đổ thành phố lần lược bị bỏ ngỏ, vị chỉ
huy của một đơn vị Nhảy Dù vẫn đứng ở vị trí của mình, giữa trách nhiệm,
giữa đơn vị, giữa lời thề của một sĩ quan. Ông biết mình không thể rời
bỏ binh sĩ, nhưng cũng biết vợ và ba đứa con nhỏ không thể ở lại. Vậy là
ông thu xếp cho họ đi trước, bằng tất cả ông có thể làm trong hỗn loạn.
Một quyết định rất đúng, nhưng vừa đau lại vừa mang theo nỗi bất an mà
ông không bao giờ nói ra, vì vợ ông chưa bao giờ biết làm gì ngoài
chuyện lo cho gia đình và các con còn nhỏ.
Rồi ông đi tù. Hơn mười năm. Những năm
tháng ấy không chỉ hao mòn sức lực, mà còn bào mòn luôn cả những gì ông
từng biết trong quá khứ và niềm tin vào tương lai. Khi được HO đưa sang
Mỹ, ông mang theo một hy vọng nhỏ nhoi: được gặp lại gia đình, được nhìn
thấy vợ con bình yên sau bao năm xa cách.
Nhưng khi đứng trước căn nhà nơi họ đang
sống, ông nhìn thấy một sự thật mà không ai nói ra: vợ ông đã có chồng
mới. Không lời trách móc, không một câu hỏi, không một giọt nước mắt.
Ông chỉ đứng đó rất lâu, rồi lặng lẽ quay đi.
Không trở lại. Không tìm gặp. Không liên
lạc với thuộc quyền, không tìm bạn bè Võ Bị, không nhận mình là ai trong
quá khứ. Ông chọn một tiểu bang xa lắc, nơi không ai biết ông từng là
một cấp chỉ huy lừng lẫy, từng có những người lính sẵn sàng sống chết
theo lệnh ông. Ông sống một đời giản dị, lặng lẽ, như thể muốn xóa đi
dấu vết của chính mình. Nhưng không oán hận. Không kể lể.
Chỉ sống, một cách khiêm nhường, cô độc, và đầy tự trọng.
Trong vô số mảnh tình bị thời cuộc xé nát,
có những mảnh không tan vì phản bội, mà tan vì chiến tranh đã lấy đi
quá nhiều thời gian, quá nhiều năm tháng mà không ai có thể bù đắp. Và
có những người đàn ông, như ông, chọn cách mang nỗi đau ấy đi thật xa,
để không làm phiền ai, để giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho chính
mình.
***
Trong những ngày cuối của cuộc
chiến, khi mọi thứ đang nghiêng ngả, người thiếu tá Không Quân ấy đã
chọn một con đường mà 1 thiểu số người đàn ông thời ấy đã chọn: ra đi
trước, mang theo người vợ bé và hai đứa con nhỏ. Ông giữ kín chuyện ấy,
không một lời báo cho gia đình bên vợ — những người vẫn tin rằng ông là
người chồng, người cha đang chiến đấu và sẽ tìm đường cho cả nhà cùng di
tản một lúc.
Nhiều năm sau, khi đã ổn định ở Canada,
ông làm giấy tờ bảo lãnh ba người con với người vợ chính sang trước. Rồi
phải thêm vài năm nữa, các con mới bảo lãnh được mẹ của chúng sang đoàn
tụ.
Nhìn từ bên ngoài, câu chuyện ấy có một
vết nứt rất rõ: sự phản bội của một người chồng đã chọn một gia đình
khác, một cuộc đời khác, rồi để lại người vợ chính âm thầm nuôi con
trong những năm tháng hậu chiến đầy thiếu thốn.
Nhưng nhìn sâu hơn, lại thấy một điều
khác: ông không bỏ rơi các con. Ông đưa chúng sang trước, lo cho tương
lai của chúng, rồi để chính các con mở đường cho mẹ sang sau. Trong cái
sai của một người đàn ông, vẫn còn một chút trách nhiệm, một chút dây
nối không đành cắt đứt.
Khi người vợ chính sang được Canada, bà
không mấy dịp gặp lại người chồng xưa nữa. Chỉ còn lại ba đứa con, và
một sự thật mà bà đã biết từ lâu nhưng chưa bao giờ nói thành lời.
Không trách móc. Không đòi hỏi. Không làm lớn chuyện.
Bà sống phần đời còn lại bên các con cháu,
còn ông, sống với gia đình mới của mình – hai thế giới song song, không
va chạm, không đối thoại, nhưng cũng không thù hận.
Trong vô số mảnh tình bị thời tao loạn làm
rạn vỡ, có những mảnh không vỡ vì hận thù, mà vỡ vì con người không đủ
mạnh để giữ trọn một lời hứa trong cơn biến động quá lớn. Và đôi khi,
điều còn lại duy nhất để níu giữ chút nhân phẩm là: lo cho con cái, dù
muộn màng, dù không trọn vẹn.
***
Tiếp sau đây là một câu chuyện
đẹp, đẹp vô cùng cho đến nỗi tôi phải dừng lại một chút – không phải để
tìm chữ mà viết – mà để thở, cho trái tim kịp lắng xuống trước một mảnh
đời mà tình người vượt qua được hệ lụy của chiến tranh, của mất mát, của
lỡ làng cùng với những ngã rẽ tưởng như không thể nào “châu về hiệp
phố”.
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi
miền Trung chìm trong hỗn loạn, người chồng , một sĩ quan cấp chỉ huy ,
mất tích giữa rừng núi, không ai biết sống chết ra sao. Người vợ, ôm ba
đứa con nhỏ, theo dòng người di tản, trôi dạt đến trại chuyển tiếp Camp
Pendleton. Lạc lõng, bơ vơ, không một tin tức từ quê nhà, bà nhận được
sự cưu mang của một người đàn ông Mỹ, người đã bảo lãnh mẹ con bà sang
một cuộc đời mới.
Rồi thời gian trôi. Mười lăm năm.
Ba đứa con lớn lên, đứng trước ngưỡng cửa
đại học, được nuôi nấng đàng hoàng trong một mái ấm bình yên. Người vợ
tưởng như đã khép lại quá khứ, chấp nhận một đời sống mới, một gia đình
mới.
Cho đến ngày người chồng cũ — người đã mất
tích năm xưa — bất ngờ xuất hiện trên đất Mỹ theo diện HO. Ông biết rõ
hoàn cảnh của vợ mình. Biết bà đang hạnh phúc. Biết ba đứa con đang được
chăm sóc tử tế. Và ông chọn cách lùi lại.
Không trách móc. Không đòi hỏi. Không chen vào cuộc sống đã yên ổn của người vợ xưa.
Giữ kín niềm đau trong tim, ông lặng lẽ
đến một tiểu bang khác, sống một mình, giữ liên lạc êm thắm với ba đứa
con, và chờ đợi – không phải chờ một điều gì cụ thể, mà chờ một ơn lạ,
như cách những người từng đi qua chiến tranh vẫn âm thầm hy vọng vào một
phép màu.
Rồi một ngày, phép màu ấy đến thật.
Người chồng Mỹ qua đời.
Người vợ xưa trở về với ông, mang theo hai
đứa con riêng – hai đứa trẻ mà ông đón nhận bằng một tấm lòng rộng mở,
không phân biệt. Không nề hà, không so đo. Ông ôm choàng chúng vào lòng
không một do dự- như chính con ruột của mình.
Và thế là một gia đình mới hình thành —
nhưng cũng là gia đình cũ, được ghép lại bằng những mảnh vỡ đã từng
tưởng như không thể hàn gắn. Ba đứa con lớn, hai đứa con nhỏ, những
người bạn đời của chúng… tất cả quây quần bên ông như một phép lành muộn
màng.
Không còn biên giới giữa quá khứ và hiện tại. Không còn ranh giới giữa con chung, con riêng.
Chỉ còn lại tình người, thứ duy nhất đủ mạnh để xóa đi mọi đổ vỡ của thời tao loạn
Một câu chuyện đẹp đến mức khiến người ta tin rằng “Khi trái tim còn biết yêu thương, thì không có gì là quá muộn”.
***
Trong tháng hỗn loạn của cuộc
di tản, chị, con nhà quyền quý, giàu sang, theo gia đình sang Mỹ. Còn
Anh, người chồng bác sĩ vừa ra trường, bị kẹt lại với đơn vị, không kịp
về Sài Gòn. Hai người lấy nhau qua mai mối, chưa kịp sống đủ một đời vợ
chồng để kịp hiểu nhau, thì chiến tranh đã xé đôi số phận.
Mười năm sau, anh vượt biên. Sóng gió, đói
khát, trại tỵ nạn… tất cả chỉ là những thử thách Anh chấp nhận để tìm
lại vợ mình. Khi được vợ bảo lãnh sang Mỹ, Anh tưởng rằng mình đã đến
được bến bờ bình yên. Nhưng ngay ngày đầu tiên bước vào căn nhà ấy, chị
chỉ vào garage — nơi có sẵn một chiếc giường — và nói bằng giọng thản
nhiên đến lạnh người:
“Tôi đã có chồng khác. Chúng tôi rất hạnh phúc. Anh ở đây một tháng, rồi nên đi tìm nơi khác để sống.”
Không giận dữ. Không khóc. Không trách.
Anh chỉ đứng đó, chết lặng. Mười năm tù,
trong nhà tù nhỏ, nhà tù lớn trên chính quê hương của mình, vượt biển,
vượt cả nỗi cô đơn, sợ hãi… để rồi nhận lại một cánh cửa đóng ngay trước
mặt. Ba ngày sau, nhờ bạn bè giúp đỡ, Anh rời khỏi căn nhà ấy và quyết
định biến mất khỏi cuộc đời người vợ cũ – như một cách giữ lại chút phẩm
giá cho chính mình.
Rồi Anh bắt đầu lại từ đầu. Học lại Y khoa. Thi lại bằng cấp.
Làm lại cuộc đời từ con số không.
Và, như một món quà muộn màng nhưng xứng
đáng, Anh gặp một người phụ nữ hiểu biết, nhân hậu, trân trọng Anh bằng
tất cả những gì Anh đã trải qua. Hai vợ chồng sống hạnh phúc, làm thiện
nguyện, giúp đỡ cộng đồng — như thể Anh muốn trả lại cho đời những gì
đời đã từng lấy đi của Anh.
Trong vô số mảnh tình bị thời tao loạn làm
rạn vỡ, có những mảnh vỡ tưởng như tàn nhẫn lại mở ra một con đường
khác — sáng hơn, đẹp hơn. Và đôi khi, chính những cú rơi lạnh lùng lại
đưa con người đến đúng nơi họ thuộc về.
***
Trong trận đánh cuối cùng ở
Xuân Lộc, Anh — một người lính tác chiến của binh chủng Nhảy Dù — bị
thương nặng. Đầu, mặt, mắt, cổ, ngực đầy mảnh lựu đạn trong một lần tiến
chiếm vị trí địch. Khi được tản thương bằng trực thăng Chinook về Tổng Y
Viện Cộng Hòa, giữa cơn mê tỉnh chập chờn, Anh chỉ kịp nhìn thấy mờ mờ
hình bóng một cô y tá dân sự biệt phái đang cúi xuống băng bó cho mình.
Một khuôn mặt hiền, một đôi tay nhẹ, một giọng nói tiếng Bắc nhỏ như
sương.
Rồi ngày 30 tháng 4 đến. Anh – cùng hàng
ngàn thương binh khác – bị kẻ chiến thắng tống ra khỏi bệnh viện, bỏ mặc
giữa đường đời, không thuốc men, không chăm sóc, không một lời thương
xót.
Nhiều năm sau, nhờ quen biết và thủ tục
“đầu tiên” Anh được nhận vào làm việc tại bệnh viện Nguyễn Văn Học,
trong bộ phận dưỡng khí. Và chính tại nơi tưởng như rất bình thường ấy,
định mệnh mở lại cánh cửa của nó.
Một buổi sáng, Anh nhìn thấy một người phụ
nữ bước vào. Vẫn dáng đi ấy. Vẫn đôi mắt ấy. Vẫn khuôn mặt mà Anh từng
thấy trong khoảnh khắc giữa sống và chết trên chiếc trực thăng tản
thương năm nào.
Cô y tá năm xưa, bấy giờ là nhân viên của
bệnh viện Quân Dân Y Long Khánh, đứng trước mặt Anh, cũng sững sờ như
Anh. Không cần lời giải thích. Không cần hỏi han. Chỉ một ánh nhìn là đủ
để hai người nhận ra nhau giữa biển người của một đất nước đã đổi màu.
Từ giây phút ấy, họ bắt đầu lại – không
phải từ quá khứ, mà từ sự biết ơn, từ sự trân trọng, bởi một mối dây vô
hình đã nối họ từ ngày Xuân Lộc rực lửa.
Họ yêu nhau. Rồi cưới nhau. Rồi vượt biên cùng nhau vào giữa thập niên 80.
Giờ đây, định cư tại Florida, anh chị sống
bình an, hạnh phúc, và hoạt động mạnh mẽ trong Gia Đình Mũ Đỏ — như một
cách trả lại nghĩa tình cho những người đã từng cùng họ đi qua lửa đạn.
Một câu chuyện tưởng như lạ lùng, nhưng
lại đẹp đến mức khiến người ta tin rằng: giữa đổ nát của chiến tranh,
vẫn có những sợi chỉ tơ hồng âm thầm nối hai con người lại với nhau, để
cuối cùng, họ tìm được nhau trong bình yên.
***
Họ là hai người bạn thân từ
thuở thanh xuân, cùng khoác áo Không Quân, cùng lớn lên bên nhau, cùng
chia sẻ và thân quen với một bạn gái cùng chung xóm, một người lái phản
lực, người kia lái trực thăng. Cô bạn là một cô gái Bắc Kỳ nho nhỏ của
xóm đạo, người mà cả hai đều thương mến theo cách riêng của mình.
Khi chiến tranh đến hồi nghiệt ngã, người
phi công trực thăng đóng quân xa Sài Gòn, không thể về kịp để đưa vợ con
đi. Anh chỉ còn biết gửi gắm tất cả cho người bạn thân – người lái phản
lực – nhờ đưa vợ mình đi trước. Một lời nhờ vả trong hỗn loạn, nhưng
cũng là một lời tin tưởng tuyệt đối giữa hai người đàn ông từng có cùng
chí hương như nhau.
Điều Anh không biết: người bạn ấy đã từng
thầm yêu người vợ của mình từ thuở cả ba còn vô tư chơi chung. Nhưng
tình bạn lớn hơn tình yêu. Anh bạn phản lực không nói gì, chỉ lặng lẽ
làm tròn lời nhờ vả.
Sang Mỹ, Anh phải sống chung nhà với vợ
bạn mình, cùng nhau nuôi hai đứa con nhỏ của người bạn đang kẹt trong tù
cải tạo. Không ai gọi tên mối quan hệ ấy, nhưng họ sống với nhau như
một gia đình – không phải vì đam mê, mà vì trách nhiệm, vì tình bạn, vì
thương nhau, và cùng gánh một phần đời quá nặng.
Khi người phi công trực thăng được HO đưa
sang Mỹ, Anh bạn phản lực lặng lẽ thu xếp hành lý, rời khỏi thị xã,
nhường lại mái nhà cho bạn mình. Không một lời than trách. Không một
giọt nước mắt. Chỉ có sự tự trọng và tình bạn được giữ trọn vẹn.
Nhưng tình cảm không vì thế mà mất đi.
Cuối tuần nào, người đàn bà ấy cũng trở về
thăm người bạn chồng — người đã từng cưu mang mình, nuôi con mình, chia
sẻ những năm tháng cô đơn nhất. Một giao ước không lời, nhưng bền như
sợi chỉ hồng nối ba phận người lại với nhau.
Và khi người phi công trực thăng qua đời
vì những căn bệnh âm ỉ từ kiếp tù đày, người bạn phản lực lại mở cửa đón
bạn mình trở về – không phải như một cuộc chiếm đoạt, mà như một sự trở
lại đúng chỗ, đúng người, đúng thời điểm.
Hai đứa con, nay đã trưởng thành, đứng bên
họ trong lễ cưới, xem ông như cha, vì ông đã lo cho chúng suốt những
năm tháng cha ruột còn trong tù.
Một câu chuyện tưởng như lạ kỳ, nhưng lại đẹp theo cách rất riêng:
Tình bạn có thể đi qua chiến tranh, qua lỡ
làng, qua cả những điều không thể gọi tên — và cuối cùng, vẫn giữ được
sự tử tế, sự thủy chung, và một kết thúc thật nhân hậu.
***
Anh từng là sĩ quan tác Nhảy
Dù, tính tình phóng khoáng, hào sảng, sống hết mình với bạn bè và đồng
đội. Vợ Anh là một vũ nữ nổi tiếng sắc nước hương trời, hai người có với
nhau hai đứa con nhỏ. Đến ngày 28 tháng 4, khi Anh chạy về nhà giữa hỗn
loạn, chỉ còn bà vú trao cho anh một lá thư. Trong đó, vợ anh viết vội:
“Lo cho hai đứa nhỏ
. Tôi đi với người khác.”
Không kịp buồn, không kịp trách, Anh chỉ
còn biết một tay dắt con gái, một tay bế con trai, chạy đôn đáo tìm
đường thoát thân. Cuối cùng, ba cha con đến được Mỹ – một gà trống nuôi
hai con giữa xứ lạ, ai nhìn vào cũng thương.
Rồi Anh gặp một người phụ nữ khác, có học
vị cao, nhưng cũng mang một vết thương đời: chồng bà có thể di tản được,
nhưng chọn ở lại Việt Nam vì có những ràng buột tình ái khác, để sau đó
vào tù cả chục năm. Hai phận người lỡ dở, hai mái nhà tan vỡ, gặp nhau
giữa đất Mỹ.
Họ gom lại năm đứa trẻ: ba con gái của bà, hai đứa con của Anh.
Và trong căn nhà ấy, chỉ có một người đàn
ông chạy xuôi chạy ngược: lo nhà cửa, lo cơm nước, lo từng đứa nhỏ, để
bà có thời gian tiếp tục đi học. Anh nâng đỡ bà từng bước, cho đến ngày
bà lấy được bằng tiến sĩ Giáo Dục — một thành tựu mà chính Anh là người
đứng phía sau, âm thầm làm bệ đỡ.
Năm đứa trẻ lớn lên, thành đạt, tử tế. Ba cô con gái của bà xem Anh như cha ruột. Hai đứa con của Anh xem bà như mẹ.
Đến ngày con gái của bà lên xe hoa, dù cha
ruột có mặt, cô vẫn nắm tay Anh – người đã nuôi mình, dạy mình, thương
mình — để bước vào lễ đường. Một sự ghi nhận đẹp đẽ, giản dị, nhưng sâu
sắc hơn mọi lời nói.
Giờ đây, họ sống hạnh phúc, bình an, trong
sự thương yếu và biết ơn của cả năm đứa con mà tất cả đều gọi Anh bằng
Cha. Anh vẫn là người đàn ông hào phóng, ngay thẳng, nói năng có duyên,
luôn rộng lòng với bạn bè, với người quen, và đặc biệt với gia đình Mũ
Đỏ, nơi Anh từng thuộc về.
Một câu chuyện đẹp đến mức khiến người ta
tin rằng: gia đình không chỉ được tạo nên bởi máu mủ, mà còn bởi lòng
nhân hậu và sự hy sinh của một con người biết yêu thương.
Bạn đọc mến, mười hai câu chuyện, mười hai
mảnh tình kèm theo là bao nhiêu thân phận bị xô đẩy trong từng câu
chuyện, tưởng như rời rạc – nhưng khi đặt cạnh nhau, chúng lại hiện lên
như một dòng chảy chung của một thế hệ đã đi qua chiến tranh, vượt biên,
tù đày, chia ly, tái hợp, và cả những lỡ làng không ai muốn, không ai
trách cứ.
Nhìn lại tất cả, người ta mới thấy: trước
vận nước nghiêng ngả, con người như những chiếc lá nhỏ, bị cuốn theo
dòng đời không ai cưỡng nổi. Nhưng điều kỳ lạ là, dù bị cuốn đi, dù bị
dập vùi, dù bị xé nát, những chiếc lá ấy vẫn giữ được màu xanh của hy
vọng, của cảm thông, của tha thứ đầy tình người.
Những câu chuyện trên chỉ là chóp bu của
một tảng băng ngầm với bao chuyện tương tự có cùng màu sắc trong thế hệ
những người “di tản buồn”. Chúng kể lại cách con người đã cứu nhau,
trong giai đoạn mà tình yêu không chết, chỉ đổi hình; tình bạn không
mất, chỉ đi vòng; gia đình không tan, chỉ được dựng lại bằng này hay
cách khác. Và con người, dù nhỏ bé, vẫn biết che chở nhau trong cơn bão
đời
Và trên hết, yếu tố thời gian luôn là một
liều thuốc bổ. Không những nó làm cho vết thương mờ dần, mà vì nó cho ta
đủ khoảng lặng để nhìn lại, để hiểu, để tha thứ – cho chính mình và cho
người- để cảm thông…và để buông. Để hiểu điều còn lại, sau tất cả –
không phải là chiến tranh, không phải sự độc ác của một chế độ vô sản.
Cũng không phải là thời cơ, không phải hận thù, không phải những mất mát
khó bù đắp – mà là tình người – thứ duy nhất đủ mạnh để nối lại những
gì thời cuộc nghiệt ngã đã xé nát – Tạo hóa gây chi cuộc hí trường.
Nếu ai đó đọc những câu chuyện trên và
thấy thấp thoáng bóng dáng đời mình, hay của gia đình, người thân gần
xa, bạn bè… thì có lẽ họ sẽ thấy nhẹ đi một phần. Khi biết mình không cô
độc. Khi thấy nỗi đau của mình không phải là vô nghĩa. Khi biết có
những trường hợp tương tự xẩy ra. Và nhất là biết rằng những vết thương
không chảy máu vẫn có thể được xoa dịu – qua sự chia sẻ, qua cầu nguyện,
qua cảm thông, qua tha thứ. Với lòng nhân, với sự chân thành trong đối
xử và nâng đở nhau. Bằng những bàn tay nối kết với bàn tay giúp nhau
đứng dậy, bằng những ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử đẹp nhỏ, một sự tử
tế không cần đền đáp, một trái tim sáng và mềm hơn. Và một nén hương cho
cả một thế hệ. Cho cùng những ai vẫn mang một vết thương âm thầm trong
cô đơn. Giữa những đổ nát của lịch sử, điều duy nhất còn lại, điều duy
nhất có thể hàn gắn vết thương lòng, điều duy nhất giúp con người đứng
dậy – đó chính là sự nhân ái của tình người chân thật.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Để kết thúc, xin bạn đọc trải lòng nghe
bản nhạc “Buồn Nào Cho Nguôi”của nhạc sĩ Lê Tín Hương, để cảm nhận sự
“xót xa trên từng nhánh hồn ta”.