Friday, 4 September 2026

Từ FROM THE ASHES OF WAR tới VIETLONDON-MUSIC: thế hệ thứ 2 nói về thảm kịch của dân tộc

 

Từ FROM THE ASHES OF WAR tới VIETLONDON-MUSIC: thế hệ thứ 2 nói về thảm kịch của dân tộc

  • Photo du rédacteur: TỪ THỨC
    TỪ THỨC
  • 28 juil.
  • 7 min de lecture

Dernière mise à jour : 28 juil.



TỪ THỨC (Paris)


Những người Việt cao tuổi vẫn lo ngại: sau khi thế hệ của mình lần lượt ra đi, hay bỏ cuộc vì tuổi già, sức yếu, lịch sử của dân Việt sẽ hoàn toàn ở trong tay Cộng sản, những người coi chuyện viết lại lịch sử là một nghĩa vụ.

Hai sinh hoạt văn hoá những ngày gần đây khiến người ta lạc quan hơn, thấy lớp trẻ thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba ở hải ngoại đang tiếp tay, để kêu gào sự thực về những thảm kịch kinh hoàng của người Việt: đó là cuốn phim ‘’Từ Tro Tàn Chiến Tranh’’ (From The Ashes Of War) của Trần Hoàng Thanh Tâm và những nhạc phẩm của nhóm Vietlondon@Music.


Cuốn phim của Thanh Tâm và các nhạc phẩm của Vietlondon@music là cái nhìn, tiếng nói của người Việt trẻ nói với những người cùng thế hệ về đấu tố, về Tết Mậu Thân, về thảm sát Huế, về trại cải tạo, về boat people, về những vết thương chưa lành, và sẽ không bao giờ lành, những sự kiện không thấy dấu vết trong sách báo Cộng Sản.

Cuốn phim nói tiếng Việt, phụ đề ngoại ngữ, những ca khúc của Việt London Music có lời ca tiếng Anh, qua giọng hát của những người trẻ sinh ra ở Anh quốc, có phụ đề Việt ngữ. Nghĩa là cả hai muốn đi tới lớp trẻ cả trong và ngoài nước, và những người ngoại quốc vốn có cái nhìn sai lạc về chiến tranh VN.

Làm phim hay viết nhạc là một việc làm quan trọng, bởi vì hầu hết sách báo của người Việt nói về chiến tranh VN viết bằng tiếng Việt ít khi đi tới lớp trẻ, không có thói quen đọc sách hay không thông thạo tiếng Việt. Thế hệ này là thế hệ của hình ảnh, âm nhạc.


TỪ TRO TÀN CHIẾN TRANH


Từ Tro Tàn Chiến Tranh là cuốn phim thứ 3 của đạo diễn Thanh Tâm (Canada) về thảm kịch của dân tộc Việt, sau Bóng Quá Khứ Thuyền Nhân: Hành Trình 50 Năm.

Cuốn phim đã tốn gần nửa triệu dollars, một phần do người Việt hải ngoại đóng góp, một ngân sách không đáng kể đối với phim ảnh ngoại quốc, nhưng rất lớn đối với phim ảnh VN.

Người làm phim đã gặp hàng trăm nhân chứng còn sống sót để nói về lịch sử VN từ 1945, về cuộc di cư 54, về cuộc xâm chiếm miền Nam 1975, về trại cải tạo, về boat people và những thành công của người Việt ở hải ngoại.

Bên cạnh những cuộc phỏng vấn, những đoạn phim, dựng cảnh Tết mậu Thân, địa ngục của trại cải tạo, thảm hoạ của thuyền nhân đã gây xúc động.

Trong giai đoạn đầu, cuốn phim đã và sẽ lần lượt được trình chiếu tại nhiều thành phố lớn, và sau đó, trên mạng.

Hầu như đây là lần đầu tiên có một cuốn phim dài 2 giờ, với cái nhìn của nạn nhân, nói về cuộc hành trình và thảm hoạ của dân Việt trong thế kỷ vừa qua.

Những phim ảnh khác về VN không bao giờ đả động tới thân phận của người Việt ở miền Nam.

Ngoài những phim đổi trắng thay đen của Cộng Sản là những phim tài liệu của phe tả Tây phương, không biết gì, hay không muốn biết gì về sự thực lịch sử. Hay những phim nổi tiếng với ngân sách khổng lồ của Hollywood ( Apocalypse Now, Full Metal Jacket, The Deer Hunter…), những tác phẩm lớn trên địa hạt nghệ thuật, nhưng khán giả người Việt có cảm tưởng coi những cuốn phim không liên hệ gì tới mình, diễn ra ở một nơi nói là ở VN nhưng hoàn toàn xa lạ, kỳ quái đối với người Việt.

Người Mỹ làm phim, cũng như tham chiến ở VN, suy nghĩ như người Mỹ trên xứ Mỹ, không đếm xỉa gì tới sự thực VN.

Trong những phim Hollywood về VN, người ta thấy ngoại cảnh Cambodge, quần áo Phi Luật Tân, dân địa phương nói tiếng Tàu. Hollywood bỏ thời giờ, tiền bạc để nghiên cứu về trang phục thời La Mã, Ai Cập tiền sử hay trung cổ, nhưng không thèm bỏ vài phút để tìm hiểu về một nước VN ngay trước mắt. Thiếu sự lễ phép tối thiểu đối với cả một dân tộc

Cũng đáng buồn, khi có hàng trăm cuốn phim có giá trị về Holocauste, về bi kịch Do Thái, trong khi thảm kịch VN, từ chiến tranh, trại cải tạo, boat people cũng bi thảm không kém, chưa có một cuốn phim đứng đắn, trung thực.

Càng đáng buồn hơn khi rất khó tìm được ngân sách để thực hiện một cuốn phim VN, hay thực hiện một  dự án văn hoá Việt, trong khi rất nhiều người Việt đã thành công ở hải ngoại, không biết dùng tiền làm gì, ngoài việc khoe của, khoe nhà, khoe xe hơi, hột xoàn hay tung tiền làm những việc tào lao, vô bổ.

Phải chăng bởi vì người Việt chưa có văn hoá ‘’trả lại cho xã hội những gì nhận được của xã hội’’ như văn hoá Tin Lành, hay bởi vì người Việt chưa ý thức được mức hữu hiệu của các sinh hoạt văn hoá ?

Hy vọng ‘’Từ Tro tàn Chiến Tranh’’ là bước đầu, dẫn tới những phim ảnh khác nói lên nỗi phẫn uất âm thầm của dân tộc Việt.

Khi còn làm Facebook, tôi nhận được nhiều messages của các bạn trẻ ở trong nước, cám ơn đã viết về Nhân văn Giai Phẩm, về di cư 54, về những cuộc thủ tiêu ghê rợn các nhà ái quốc không thân Cộng, về boat people mà họ chưa bao giờ nghe nói tới.

Một bên, nhà nước CS tìm mọi cách viết lại lịch sử, xoá bỏ những tội ác của họ, suốt ngày chỉ ca tụng chiến công của Bác, Đảng. Một bên, các gia đình VN, kể cả ở hải ngoại, ít khi nói với con cháu mình về dĩ vãng. Người ta muốn quên, không muốn nhắc tới những thảm hoạ ghê rợn nhiều khi ngoài sức tưởng tượng, như che dấu, không muốn nhìn thấy vết thương trên thân thể, tâm hồn mình.

Hậu quả là thế hệ trẻ, từ trong nước tới hải ngoại mù tịt về quá khứ rất gần của dân tộc mình

Một dân tộc quên quá khứ là một dân tộc không có tương lai, không biết mình là ai, từ đâu tới, đi về đâu. Nếu chúng ta thờ ơ, những thế hệ sau này sẽ không còn là người Việt.




VIETLONDON@MUSIC


Viet London Music là những bản nhạc có giá trị về âm nhạc, về lời ca. Đó cũng là một ngạc nhiên, với một thế hệ âm nhạc thường thường chỉ là những tiếng la hét, những câu đơn giản lập dì lập lại, nhiều khi vô nghĩa (full of sound and fury, signifying nothing. Shakespeare). Đó là tiếng khóc của lớp trẻ hải ngoại còn tha thiết với quê hương, chưa quên thảm kịch đã sống của cha mẹ, gia đình, dân tộc mình

Cuốn phim ‘’Từ Tro Tàn Chiến Tranh’’ và những nhạc phẩm của Việt London Music là một cách chống Cộng hữu hiệu, bởi vì nghệ thuật đánh vào con tim.

Không có gì hữu hiệu hơn nghệ thuật để kêu gào sự thực.

Người ta đã viết hàng ngàn, hàng triệu bài về chiến tranh, nhưng ít khi gây xúc động và khiến người ta suy nghĩ như vài câu Đường thi nói về nắm xương trắng nằm trên bờ sông, trong khi ở quê xa, người chinh phụ vẫn ngồi bên song cửa chờ chồng.

Đã có hàng ngàn bài viết về thân phận phụ nữ Việt thời chinh chiến, nhưng ít có hình ảnh nào rung cảm hơn cảnh chia ly của Chinh Phụ Ngâm. ‘’Cùng trông lại, mà cùng chẳng thấy/ Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/Ngàn dâu xanh ngắt một mầu/Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai’’.

Đã có rất nhiều than vãn, nhưng ít khi đi vào tâm khảm người nghe hơn lời khuyên vừa thiết tha, ân cần, chân thực, vừa tuyệt vọng của lữ khách, đối với người chinh phụ hoá đá, ôm con đứng chờ, xem chàng về hay chưa, của Lê Thương, trong Hòn Vọng Phu: ‘’Thôi, đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi/Sẽ đem đến trả đúng kỳ/ Những người mang mệnh biệt ly.’’

Ai trong chúng ta không có lần muốn khuyên nhủ một thiếu phụ đồng hương: thôi, đứng đợi làm chi...Trên thế giới có bao nhiêu hòn núi tương tự, chỉ có người Việt nghĩ tới một chinh phụ ôm con đứng chờ, xem chồng về hay chưa.

Những bài hát tuyệt vời tiếng Anh, có phụ đề Việt ngữ của Vietlondon@music nhắc lại cho thế hệ trước, kể lại cho thế hệ sau về những người chiến đấu cho tự do của miền Nam (Thank You Brave Men), về ngày Saigon sụp đổ (Last Boat in Saigon), về chuyện CS đốt sách cấm nhạc (Songs They Not Kill), về thảm kịch boat people (The Ones Who Didn't Land)...

Những câu hát, giọng tiếng Anh rất trẻ, về những bà mẹ, những trẻ em chết chìm trên biển cả, làm mồi cho cá mập khiến người nghe khó cầm được nước mắt. Một cách hay nhất để tưởng niệm những người đã bỏ mạng trong trại cải tạo, trên biển cả, để những người đã chết không chết lần thứ hai.

Paris 24/07/2026


TỪ THỨC

https://www.tuthuc-paris-blog.com/post/t%E1%BB%AB-from-the-ashes-of-war-t%E1%BB%9Bi-vietlondon-music-th%E1%BA%BF-h%E1%BB%87-th%E1%BB%A9-2-n%C3%B3i-v%E1%BB%81-th%E1%BA%A3m-k%E1%BB%8Bch-c%E1%BB%A7a-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c


Những người không đến được bờ


Những bài hát của Vietlondon-Music

Thursday, 27 August 2026

MẢNH KHĂN TANG KHÔNG KỊP KHÓC

 

MẢNH KHĂN TANG KHÔNG KỊP KHÓC 

Năm 1977, cha tôi qua đời.

Ông không chết vì bệnh nặng. Ông ra đi vì mòn mỏi chờ những đứa con vẫn còn biệt tăm trong các trại cải tạo sau năm 1975. Mỗi buổi chiều, ông lại ngồi trước hiên nhà, nhìn ra con đường đất như chờ một bóng người quen trở về. Nhưng ngày ấy, điều ông đợi chỉ là sự im lặng.

Khi cha mất, chị Hai lặn lội theo người quen lên tận trại giam để báo tin cho em. Chị chỉ mong được nhìn em một lần, dù từ xa cũng được.

Nhưng cán bộ lắc đầu.

“Không được gặp. Nó đang bị cùm”

Chị đứng chết lặng. Không còn cách nào khác, chị lấy một mảnh khăn tang màu đen, nhờ một người tù khác lén mang vào trao giúp. Đó là tất cả những gì em nhận được về cái chết của cha mình.

Không một nén nhang.

Không một giọt nước mắt trước linh cữu.

Không một lần được quỳ lạy người đã sinh thành.

Chỉ một mảnh khăn tang nhỏ bé giữa bốn bức tường giam.

Rồi chị lại tiếp tục lặn lội đi thăm các anh ở những trại khác. Mỗi người cũng chỉ nhận được một mảnh khăn tang như thế.

Một gia đình có nhiều người con, nhưng khi cha mất, không ai được về chịu tang. Nỗi đau bị chia cắt thành từng mảnh vải đen, lặng lẽ truyền tay trong những trại giam.

Ít lâu sau, mẹ già vừa qua cơn bệnh nặng cũng quyết vượt rừng đi thăm con.

Bà mang theo chút gạo, ít đường và niềm hy vọng mong được nhìn mặt đứa con sau bao năm xa cách. Nhưng khi đến nơi, cán bộ lại lạnh lùng nói:

“Nó đang bị cùm. Không được gặp.”

Lý do chỉ vì người tù ấy đã dám mạt sát “Tám Keo” nên bị biệt giam. Người mẹ già ôm gói quà quay lưng ra về, nước mắt rơi suốt con đường rừng.

Ở bên trong, người con biết mẹ vừa đến rồi lại phải trở về. Anh liều mình trốn khỏi hầm giam, chỉ mong nhìn theo bóng mẹ một lần cuối. Chưa kịp đến gần…

Tiếng còi báo động vang lên.

Lính gác cùng chó săn bao vây.

Anh bị bắt lại ngay trước cánh rừng, rồi bị quy thêm tội “âm mưu vượt trại”.

Sau đó là những trận đòn trả thù.

Là hầm sâu biệt giam.

Là xiềng xích.

Là những tháng năm không được nhận thư, không được gửi thư, không một tin tức với gia đình.

Mãi đến năm 1982, việc liên lạc bằng thư từ mới được phép trở lại.

Năm năm.

Năm năm của một gia đình sống trong mù mịt, không biết người thân còn hay mất.

Có những người thường nói rằng thời gian sẽ xóa nhòa tất cả. Nhưng có những nỗi đau không nằm ở vết thương trên thân thể.

Đó là người cha nhắm mắt mà không được nhìn thấy con.

Là người con nhận tin cha mất qua một mảnh khăn tang.

Là người mẹ già vượt rừng chỉ để bị từ chối.

Là những bước chân bò theo bóng mẹ rồi bị kéo trở lại trong xiềng xích.

Những ký ức ấy không nhằm nuôi dưỡng hận thù. Nhưng chúng là một phần của lịch sử đời người, của biết bao gia đình Việt Nam đã đi qua những năm tháng ấy.

Và vì thế, mỗi khi có ai hỏi:

“Những đau thương ấy có quên được không?”

Có lẽ câu trả lời là:

Người ta có thể học cách sống tiếp. Có thể tha thứ nếu lòng mình đủ bao dung. Nhưng để quên, thì có những điều suốt một đời người vẫn không thể quên.

(viết lời FB hung truong)

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Người chết ở An Lộc

 

Trích đăng từ trang: https://www.facebook.com/lac.nguyen.3720

( Người chết ở An Lộc – Giữa đống đổ nát của chiến tranh, người lính Miền Nam Việt Nam rót chén rượu gạo, đặt trên mộ của vợ mình ở An Lộc, phía bắc Sài Gòn. Người vợ bị chôn vùi trong đống gạch vụn trong căn nhà gia đình mình khi thành phố giao tranh ác liệt, nơi có nhiều thường dân bị thiệt mạng năm 1972.)

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân! (1)

Chiến trường gian khổ đời lính trận

Sống chết lẽ thường kiếp chinh nhân

Ta tiến núi cao ngăn giặc dữ

Nào ngờ quê mẹ chiến cuộc tràn

Khói lửa cướp đi người vợ trẻ

Nghĩa trang sương lạnh bóng chiều hoang

Chén rượu âm dương dâng trước mộ

Hãy uống cùng anh nghĩa đá vàng !

Lac Nguyen. 3/7/2022.

(1) Hai câu thơ được cô giáo Pha ghi lại trước nghĩa trang của LĐ 81 Biệt Cách Dù ở An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

(Ảnh sưu tầm của Minh Anh Jessica)

Nguồn: https://www.facebook.com/groups/160591528349491/user/100007443515647/

“Rún” của nước Úc

 

“Rún” của nước Úc 

– Đoàn Xuân Thu


Có người hỏi tại sao người Việt, đặc biệt là người miền Nam, lại dễ hòa nhập với nước Úc đến vậy. Có lẽ vì giữa hai vùng đất có những điểm tương đồng kỳ lạ.

Miền Nam Việt Nam ngày xưa là vùng đất mới, đất rộng người thưa. Ông bà mình là những lưu dân đi mở cõi. Còn nước Úc cũng được xây dựng bởi những lớp người rời bỏ quê hương để tìm cơ hội mới.

Người Úc thích sự thẳng thắn, ít câu nệ. Người miền Nam cũng vậy. Người Úc quý tình làng nghĩa xóm. Người miền Nam cũng vậy.

Có lẽ vì thế mà chỉ sau một thế hệ, nhiều gia đình Việt Nam đã hòa nhập thành công vào xã hội Úc mà vẫn giữ được bản sắc quê nhà.

Người Việt mình cũng hay nói “rún” để chỉ cái trung tâm của một vật gì đó. Con người có cái rún, còn nước Úc theo bà con người Việt mình nó cũng có một cái rún rất đặc biệt. Cái rún đó nằm giữa lục địa mênh mông, cách biển hàng ngàn cây số, chung quanh toàn đất đỏ, bụi đỏ và nắng đỏ. Người Úc gọi vùng đó là “Red Centre” – “Trung tâm Đỏ” của nước Úc. Còn dân du lịch bốn phương thì biết tới nó qua cái tên nổi tiếng: Uluru.

Nhìn trên bản đồ, Uluru nằm ở phía nam của Lãnh thổ Bắc Úc (Northern Territory), cách thành phố Alice Springs khoảng 450 cây số. Từ xa nhìn lại, nó giống như một con cá voi khổng lồ màu đỏ đang nằm ngủ giữa sa mạc. Tảng đá dài gần 3,6 cây số, rộng hơn 2 cây số và cao khoảng 348 mét so với mặt đất. Nhưng điều đáng kinh ngạc là phần lớn của nó còn nằm chìm dưới lòng đất.

Các nhà địa chất cho rằng Uluru được hình thành cách nay hơn 550 triệu năm.

Uluru – nguồn planetdwellers.com.au 

Trước khi người Âu Châu đặt chân tới đây, nơi này đã là vùng đất linh thiêng của người thổ dân Anangu suốt hàng chục ngàn năm. Với họ, Uluru không phải là một cục đá vô tri mà là một phần của lịch sử sáng thế, một cuốn kinh bằng đá ghi lại những câu chuyện tổ tiên truyền từ đời này sang đời khác.

Năm 1873, nhà thám hiểm William Gosse nhìn thấy khối đá khổng lồ này và đặt tên là Ayers Rock để vinh danh Sir Henry Ayers, Thủ hiến Nam Úc thời bấy giờ. Nhưng ngày nay, tên gọi Uluru đã được chính thức công nhận và sử dụng rộng rãi hơn, như một sự tôn trọng đối với văn hóa thổ dân bản địa.

Nếu Sydney là bộ mặt của nước Úc, Melbourne là trái tim văn hóa của nước Úc, thì Uluru chính là cái rún của nước Úc.

Nói tới vùng Trung Tâm Đỏ thì phải nhắc thêm hai cư dân nổi tiếng khác: lạc đà và dingo.

Ít ai biết rằng lạc đà không phải là động vật bản địa của Úc. Vào thế kỷ 19, người Anh nhập hàng ngàn con lạc đà từ Afghanistan, Pakistan và Ấn Độ để vận chuyển hàng hóa xuyên sa mạc. Những người điều khiển lạc đà được dân Úc gọi chung là “Afghans”. Chính từ đó mà đoàn tàu nổi tiếng The Ghan ngày nay mang tên để tưởng nhớ những người tiên phong ấy.

Sau khi xe hơi xuất hiện, nhiều đàn lạc đà bị thả vào hoang dã. Chúng sinh sôi mạnh mẽ đến mức hiện nay Úc sở hữu đàn lạc đà hoang lớn nhất thế giới.

Còn dingo thì khác. Đây là loài chó hoang đã xuất hiện tại Úc từ hàng ngàn năm trước. Dingo rất thông minh, rất giỏi sinh tồn và được xem là biểu tượng của vùng hoang mạc của nước Úc.

Mà đã nói tới Uluru thì không thể không nhắc tới câu chuyện làm rung chuyển cả nước Úc vào năm 1980.

Vụ Azaria Chamberlain đã khiến Uluru gắn liền với một trong những câu chuyện đau lòng nhất lịch sử nước này.

Đêm 17 tháng 8 năm 1980, gia đình Chamberlain đang cắm trại dưới chân Uluru. Bé gái Azaria Chamberlain mới được chín tuần tuổi đang ngủ trong lều. Bỗng nhiên bà mẹ nghe tiếng động lạ. Chạy tới nơi, bà chỉ kịp nhìn thấy một con dingo lao khỏi lều.

“Dingo took my baby!”

(Con dingo tha mất con tôi rồi!”). Tiếng kêu thất thanh ấy trở thành câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Úc.

Nhưng bi kịch thật sự chỉ mới bắt đầu. Nhiều người không tin. Báo chí không tin. Công chúng cũng không tin. Người ta cho rằng người mẹ đã giết con rồi dựng lên câu chuyện về con dingo để che giấu tội ác.

Sau nhiều cuộc điều tra và xét xử, bà Lindy Chamberlain bị kết án tù oan. Trong nhiều năm trời, bà bị xem là người đàn bà độc ác nhất nước Úc. Mãi tới năm 1986, khi người ta tìm thấy một mảnh áo của đứa bé gần hang ổ của dingo, vụ án mới được xem xét lại. Sau nhiều cuộc điều tra kéo dài hơn 30 năm, đến năm 2012, cuộc điều tra hậu tử lần thứ tư mới chính thức kết luận rằng Azaria đã bị chó dingo tha đi và gây tử vong. 32 năm mới trả lại công lý cho một người mẹ. Đó là một trong những vụ án oan nổi tiếng nhất lịch sử pháp luật Úc.

Lạc đà và dingo – nguồn Facebook

Ngày nay du khách tới Uluru vẫn thường nghe kể lại câu chuyện buồn ấy. Nó trở thành một phần ký ức của vùng đất đỏ này.

Giữa cái vùng đất đỏ khô cằn ấy, cũng có dấu chân người Việt. Nhiều năm trước, theo tiếng gọi của đức tin, Linh mục Nguyễn Trung Tây thuộc Dòng Ngôi Lời đã tới Alice Springs làm công tác truyền giáo cho các cộng đồng thổ dân sống rải rác giữa sa mạc. Đó là công việc không hề dễ dàng.

Ai từng đi xuyên nước Úc mới hiểu sự mênh mông của lục địa này. Từ Adelaide lên Darwin dài hơn 3 ngàn cây số. Có những đoạn đường chạy hàng trăm cây số không gặp một mái nhà. Hai bên chỉ có bụi cây thấp, cát đỏ và bầu trời xanh thẳm.

Hai ba chục năm trước, khi điện thoại vệ tinh chưa phổ biến, xe hư giữa đường đồng nghĩa với hiểm nguy thật sự. Nhiều người chết vì khát hoặc vì lạc hướng sau khi bỏ xe đi tìm cứu viện. Bởi vậy người Úc luôn được khuyên rằng nếu xe hỏng giữa sa mạc thì hãy ở lại bên chiếc xe. Một chiếc xe nằm giữa đồng không mông quạnh dễ được máy bay phát hiện hơn một con người.

Ngày nay công nghệ hiện đại đã giúp việc liên lạc an toàn hơn nhiều, nhưng cảm giác nhỏ bé trước thiên nhiên bao la vẫn không thay đổi.

Mỗi năm hàng trăm ngàn du khách tìm đến Uluru để ngắm mặt trời mọc và mặt trời lặn. Khi ánh nắng đổi màu, cả khối đá từ đỏ sậm chuyển sang cam, rồi tím, rồi nâu thẫm như có phép màu.

Đứng trước Uluru, người ta mới cảm nhận được nước Úc rộng lớn đến chừng nào. Một hòn đảo khổng lồ giữa đại dương.

Một lục địa cô đơn không có láng giềng trên bộ.

Và giữa lục địa ấy là một khối đá đỏ khổng lồ tồn tại hơn nửa tỷ năm.

Cái rún của nước Úc. Nhỏ trên bản đồ nhưng lại chứa đựng cả lịch sử địa chất, văn hóa thổ dân, những câu chuyện bi thương của con người và cả dấu chân của những người Việt xa xứ đang góp phần viết tiếp câu chuyện trên miền đất đỏ mênh mông ấy.

DXT

Nguồn: https://baotreonline.com/bao-tre/run-cua-nuoc-uc.baotre

Sunday, 2 August 2026

ÁO LÍNH TRONG TỦ GỖ & Em Vẫn Đợi Anh

 

Có những người phụ nữ không được lịch sử nhắc tên.

Nhưng họ đã hy sinh cả tuổi xuân của mình bằng một chữ rất đơn giản:

Chờ.

Sau năm 1975, khi người chồng bị đưa vào tù trại cải tạo, không ai biết ngày về là bao giờ.

Ba tháng?

Ba năm?

Hay mười năm?

Không một tờ giấy bảo đảm.

Không một lời hứa.

Chỉ là những đứa con thơ ngơ ngác hỏi:

– Má ơi… chừng nào ba về?

Người mẹ quay mặt đi, lén lau nước mắt.

– Rồi ba sẽ về…

Chính bà cũng không biết câu trả lời ấy có thật hay không.

Những năm tháng ấy, người vợ lính sống trong muôn vàn thiếu thốn. Ban ngày ra đồng, buôn thúng bán bưng, gánh hàng thuê. Đêm về vá áo cho con dưới ánh đèn dầu leo lét.

Có người thương cảnh mẹ góa con côi. Có người thật lòng. Có người ngỏ ý:

– Em còn trẻ… để anh lo cho mẹ con em. Đời còn dài, chờ làm gì…

Bà chỉ cúi đầu, im lặng. Một lúc sau mới nhỏ nhẹ:

– Cám ơn anh. Nhưng chồng em vẫn còn sống.

Người kia thở dài:

– Biết đến bao giờ ảnh mới về?

Bà nhìn về phía xa, nơi cuối con đường đất.

– Em cũng không biết… Nhưng em tin ảnh sẽ về.

Chỉ vậy thôi. Không phải vì bà không cô đơn. Không phải vì bà không cần một bờ vai. Mà vì trong lòng bà vẫn còn nguyên lời hứa ngày cưới.

“Dù giàu hay nghèo, dù hoạn nạn hay gian nan…”

Bao nhiêu lần nghe tin người này chết trong trại. Bao nhiêu lần nghe người kia mất vì bệnh. Đêm nào bà cũng cầu nguyện:

Xin Chúa gìn giữ người chồng nơi rừng sâu. Xin cho anh còn sống. Để một ngày nào đó…

Anh còn biết đường về nhà.

Mười năm. Có người chờ mười hai năm. Có người mười lăm năm.

Tuổi xuân lặng lẽ đi qua. Mái tóc đen ngày nào giờ đã lấm tấm bạc.

Ngày người đàn ông bước ra khỏi cổng trại cải tạo, chiếc áo rộng thùng thình trên thân hình gầy guộc.

Ông đứng trước căn nhà cũ.

Advertisement
Privacy Settings

Không dám gõ cửa.

Sợ… Sợ vợ đã đi lấy chồng. Sợ con không còn nhận cha.

Cánh cửa mở ra. Người phụ nữ đứng lặng. Hai người nhìn nhau rất lâu. Không ai nói được lời nào. Chỉ có nước mắt rơi. Bà mỉm cười:

– Em biết… thế nào anh cũng về.

Ông ôm lấy vợ, nghẹn ngào:

– Anh đã để em khổ quá…

Bà lắc đầu.

– Chỉ cần anh còn sống là được.

Có những cuộc tình không cần những lời yêu nồng cháy.

Chỉ cần một người đi. Một người đợi.

Và người đợi ấy đã giữ trọn lời thề suốt những năm tháng đen tối nhất của cuộc đời.

Đó là lòng chung thủy.

Đó là phẩm giá.

Và cũng là vẻ đẹp lặng lẽ của biết bao người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.

Advertisement
Privacy Settings

Họ không làm nên lịch sử bằng súng đạn.

Nhưng họ giữ gìn một mái ấm bằng sự hy sinh, lòng thủy chung và niềm tin không bao giờ tắt.

Phạm Sơn Liêm.

 ----

 

ÁO LÍNH TRONG TỦ GỖ 


Có những di sản không phải là nhà cửa. Không phải tiền bạc. Mà chỉ là một bộ quân phục đã bạc màu, một đôi giày trận đã bong đế và một tấm thẻ bài bằng kim loại đã gỉ sét theo năm tháng.

Người cha mặc bộ quân phục ấy lần cuối vào tháng Tư năm 1975.

Sau đó là những năm dài trong trại cải tạo. Khi trở về, ông gầy như một cái bóng. Bộ quân phục đã không còn được phép mặc nữa. Ông gấp thật ngay ngắn, đặt vào chiếc vali cũ rồi cất trên nóc tủ.

Ông chưa bao giờ kể nhiều về chiến tranh. Chỉ đôi lúc, ngồi một mình, ông mở chiếc vali, vuốt nhẹ lên hàng khuy áo đã ngả màu, rồi lặng lẽ đóng lại.

Ngày ông mất, người con trai là người dọn chiếc vali ấy. Bên trong vẫn còn nguyên bộ đồ lính VNCH. Chiếc mũ trận.

Chiếc dây nịt. Một đôi giày đã cứng như gỗ. Và tấm thẻ bài đã gỉ sét gần hết, nhưng tên người cha vẫn còn đọc được.

Người con trai cầm lên rất lâu. Anh không khóc. Chỉ thấy lòng mình nặng như đang cầm cả một đời người.

Bạn bè nhiều lần bảo:

— “Giữ làm gì mấy thứ này?”

Anh chỉ cười.

“Là của ba tôi.”

Thế thôi.

Anh không mặc bộ quân phục ấy.

Không chụp hình.

Không đem trưng bày.

Nó chỉ được treo trong một góc tủ quần áo, phủ bằng một tấm vải trắng.

Nhưng năm nào cũng vậy Đến ngày giỗ cha. Anh lại mở tủ. Đem bộ áo lính ra. Cắm điện bàn ủi. Cẩn thận vuốt từng nếp áo. Ủi thật thẳng hai tay áo. Vuốt từng nếp quần. Đánh bóng lại đôi giày cho sạch bụi. Lau chiếc dây nịt. Rồi dùng khăn mềm chà nhẹ tấm thẻ bài gỉ sét. Tấm thẻ chẳng thể sáng lên nữa.

Nhưng anh vẫn lau.

Như thể đang lau lại ký ức của cha mình.

Vợ anh từng hỏi:

“Ba mất lâu rồi… sao năm nào anh cũng ủi?”

Anh nhìn bộ quân phục thật lâu rồi đáp nhỏ:

“Ba không còn để mặc nữa…”

“…nhưng bộ đồ này vẫn xứng đáng được tươm tất.”

Căn nhà im phăng phắc.

Đứa con trai nhỏ đứng bên cạnh nhìn cha. Nó chưa hiểu chiến tranh.

Chưa hiểu Việt Nam Cộng Hòa.

Chưa hiểu cải tạo.

Nhưng nó nhớ hình ảnh ba mình cặm cụi ủi bộ quân phục cũ mỗi năm. Có lẽ nhiều năm sau nữa… Khi người con trai ấy lớn lên. Chiếc tủ gỗ sẽ lại mở ra. Bộ quân phục sẽ được lấy xuống. Bàn ủi sẽ lại nóng lên. Và tấm thẻ bài gỉ sét sẽ lại được lau bằng đôi bàn tay của một thế hệ khác.

Không phải để nuôi hận thù.

Mà để gìn giữ lòng biết ơn.

Bởi có những người lính đã đi hết cuộc đời trong âm thầm.

Và có những người con, suốt cả cuộc đời, chỉ lặng lẽ làm một việc rất nhỏ:

Ủi lại bộ quân phục của cha vào mỗi ngày giỗ.

Đó không chỉ là ủi một tấm áo.

Đó là giữ cho ký ức của một người cha không bao giờ bị nhăn theo năm tháng.

Phạm Sơn Liêm.

 

 Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Bản gốc tác phẩm : Lần Gặp Bác Hồ Tôi Bị Mất Trinh

 Lần Gặp Bác Hồ Tôi Bị Mất Trinh

  Bản gốc tác phẩm:  http://ukdautranh/2008/12

Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hoá, đi bộ
trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường Hành Chính gần Cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi
đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ - Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác
Hồ rất chi là ít ỏi.
Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành uỷ, Biệt động thành Đà Nẵng
và Huyện uỷ Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo
thêm về tiểu sử của "Bác Hồ" - nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ " Bác " như là thần thánh
trong đầu tôi. Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn : “Con ơi, ra đến miền
Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm
sức khoẻ của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ
biết im lặng.
Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác
Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30/08/1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố-Hữu, người phụ
trách chung, nói : “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh
Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc : “… Lập,
Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hoà (Khánh Hoà), Độ,
Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói : “Các cháu chuẩn bị tư
trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe
vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang
dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay
áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu
thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà
Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2
xe Vônga - 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa - và 2 xe com măng
ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với
Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe
đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng
đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường
Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và
đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên
trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.
Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ
từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên : “Bác Hồ !” rồi thi nhau chạy đến ôm
chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn
chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên
khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi
vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói : “Dân chố gộ có mặt đây không ?”
(ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp : “Dân dưa cải mắm cái
có không ?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây Nguyên)
Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói : “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không ?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh
Hoà, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chịu với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác, Sau đó Bác
chỉ qua phía bạn Hoà, rồi Bác nói tiếp : “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam Bộ). Tất
cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác dễu dỡ quá vậy, những gì tôi học được về Bác khi còn ở
miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con ngươì bác thật sự.
Bác nói : “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác
vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức
mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang ...”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gaí,
tới chổ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bac còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa
bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng đành đứng yên chịu thôi. Trước mắt
chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói : “Mời
các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi : “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là
bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy ! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh
Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi
vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ
tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy,
ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên. Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê
hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, còn tôi thì nghẹn ngào và
mắc cỡ rôì Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục quá
không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam ... Bác nói : “Bây giờ có cháu nào đứng lên
hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào ?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy
mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát : “Ngày con mới ra miền
Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu ...”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hoà
mạnh dạn đứng lên hát bài : “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai
...”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói : “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu
mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu
cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước
đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ Quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta
được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các
chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong
không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp : “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy.
Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những " hạt giống đỏ "
của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác
chúc các cháu ngoan, khoẻ, vui và học tập thật giỏi”. Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi : “Các chú có ý
kiến chi không ?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán
thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp : “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống
với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị ...
Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó
tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi bác ôm chặc tôi, một tay choàng
qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam. Khi đèn phòng bật sáng Bác
hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác
nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho
Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc
QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa, Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao
giờ chịu làm biếng.
Hãy nhìn kỷ gương mặt tên Quỷ Ấu Dâm Hồ Tặc
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp
riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng chị
Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u
buồn và tội nghiệp. Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua môt hành lang, và tới phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ
cữa 3 tiếng cánh cửa mở ra, chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi. Khi tôi vào, Bác ôm chầm lấy tôi
hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp 2 bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng
tôi lên thiều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.
Bác bồng tôi lên gường hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi, Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồì
kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xui tay ... Hai hàng lệ một cô gái miền Nam
vừa tròng 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.
Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng,
nhưng chúng tôi không ai dám nói vớí ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoà thì những ngày
sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình.
Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc song họ hàng tôi
vẫn vui lòng bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp
Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác hồ là chuyện gì xảy ra đâu. Kể cã chồng
tôi khi hỏi tới trinh tiêt' của tôi, tôi cũng không dám nói vì anh ấy là một đảng viên cao cấp là một người lảnh
đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hảm hiếp tôi, chứ làm sao tôi
dám nói tôi bị hảm hiếp lúc mơí 15 tuổỉ và bị hảm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là " Bác hồ " hảm hiếp tôi
cho chồng tôi nghe.
Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng
tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác laị trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại
được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy : “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ
của của bác cho đồng bào miền Nam”.


Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - 

Đà Nẵng 02/09/2005


 

Saturday, 1 August 2026

Tác giả tên thật là Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1966, là cô giáo tiểu học khi còn ở Việt Nam. Vượt biên và sống ở trại tỵ nạn Thailand từ 1989-1993. Định cư tại Canada từ 1994 đến nay. Tác giả nhận giải Đặc Biệt VVNM 2021, Giải Vinh Danh Tác Giả VVNM 2023 và giải Vinh danh Tác Phẩm VVNM 2025. Bài viết “Ngàn Lời Tạ Ơn” của tác giả đăng trên Việt Báo VVNM vào tháng 11-2024 đã kể về một người phụ nữ Việt bị ung thư máu được cứu sống nhờ tủy của một người thanh niên gốc Đài Loan hiến tặng. Mấy năm trôi qua, người phụ nữ ấy không quên ơn cứu mạng và đã cùng chồng bay đến Chicago để gặp vị ân nhân đáng quý của mình. Bài viết sau đây ghi lại chuyến viếng thăm đầy ân tình ấy.

***

Hai vợ chồng vừa xong chuyện mua vé máy bay đi Chicago trên máy computer, rồi ra bếp ăn cơm chiều, Hòa hỏi chồng:

– Tụi mình nên mang quà gì cho Yang và Winnie nhỉ?

– Anh cũng đang suy nghĩ, đương nhiên là sẽ mang quà rồi, nhưng chúng ta nên chọn món quà ý nghĩa.

– Ý nghĩa là sao chứ, khó quá! Tuy Yang là ân nhân, nhưng tìm quà ý nghĩa cũng khó, cậu ấy còn trẻ, mới hơn 30 …

Hải suy nghĩ một hồi, rồi nói:

– Vợ chồng Yang là người gốc Đài Loan, tụi mình gốc Việt, cùng là Châu Á. Tất cả chúng ta đều ở Mỹ, họ ở Chicago, mình ở Seattle, nên cũng khó kiếm quà. Anh nghĩ, lần đầu mới gặp nhau, thể hiện sự biết ơn, lịch sự, tụi mình mua một loại chocolate và chai rượu đắt tiền nào đó, được không?

– Có vẻ trịnh trọng như đi tiệc á! Dù mình chưa gặp mặt họ ngoài đời, nhưng hơn hai năm nay, qua Facetime, chúng ta đã thấy Yang và vợ rất đơn sơ, giản dị, như hai đứa em thân thiết, không cầu kỳ kiểu cách.

– Hay là mình mua trang sức cho Winnie, ví dụ một chiếc vòng đeo tay, còn Yang là chiếc đồng hồ, họ sẽ đeo và sẽ nhớ kỷ niệm với vợ chồng mình!?

– Em vẫn thấy không phù hợp lắm! Thôi để từ từ tụi mình sẽ suy nghĩ thêm về món quà nhe.

Đêm hôm ấy, Hải đã ngủ say nhưng Hòa vẫn thao thức, nôn nao nghĩ đến chuyến đi gặp gỡ ân tình, với Yang, người ân nhân đã cứu mạng Hòa, cho Hòa được sống khi căn bệnh hiểm nghèo đang ở giai đoạn trầm trọng.

Cách đây 4 năm, vào giữa tháng Năm năm 2022, Hòa cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi, lúc nào cũng buồn ngủ, miệng bị lở loét, chẳng muốn ăn uống gì. Tuy nhiên, Hòa không sốt, ho, không đau cổ đau họng, và cũng không bị sụt cân bất thường. Hòa lấy hẹn bác sĩ gia đình nhưng phải đợi hơn 2 tuần mới có hẹn. Không muốn chờ lâu, Hòa đi vô Virginia Mason Clinic, họ thử Covid, có khám bệnh nhưng không đưa ra kết luận nào. Qua một tuần, các triệu chứng đó biến mất, tất cả trở lại bình thường, rồi đến ngày hẹn bác sĩ, qua một số xét nghiệm máu, Hòa nhận kết quả bị Ung Thư Bạch Huyết Cầu (Leukemia).

Theo phác đồ điều trị của bác sĩ, Hòa sẽ phải hóa trị, xạ trị, rồi sẽ ghép tủy khi tìm được tủy phù hợp. Hòa bắt đầu được hóa trị từ tháng 6/2022, tóc rụng xác xơ, may mắn cơ thể Hòa không bị phản ứng mạnh, tuy có mệt mỏi chút ít. Thời gian này Hòa là outpatient, được trở về nhà và đến bệnh viện hóa trị theo lịch hẹn.  

Jang chụp với vợ sau khi lấy xong tủy năm 2022, chuẩn bị gửi qua Seattle, để cứu Hòa.

Việc hóa trị sau sáu tháng đã hoàn tất tốt đẹp, bác sĩ bảo Hòa không cần phải xạ trị, và bắt đầu tiến hành tìm tủy thích hợp để ghép tủy. Các anh chị ruột của Hòa đều sẵn sàng hiến tủy để cứu em mình, dù cuộc ghép tủy có thành công hay không đều là những thử thách gay go, Hòa vẫn vui mừng chờ đợi. Nhưng khi thử nghiệm xét tủy có lẽ một phần do các anh chị đều lớn tuổi, nên mức độ tủy thích ứng khá thấp, thế là giấc mộng ghép tủy của các anh chị không thành, đành phải đợi các mẫu tủy của những người hiến tặng. Hòa thất vọng nhiều, xong Hòa lại cầu nguyện Thiên Chúa để thêm sức mạnh thêm niềm tin và hy vọng đợi chờ vào tấm lòng tha nhân.

Như một giấc mơ, tháng 11 cùng năm, Hòa được bệnh viện báo tin, đã tìm được người hiến tủy, và sau đó hai tháng, tức là tháng 1/2023 Hòa được ghép tủy tại University of Washington Medical Hospital.

Cuộc ghép tủy thành công, nhưng ba tháng tiếp theo sau ca ghép tủy là thời gian có lúc Hòa ngỡ như mình “chết còn sướng hơn”. Tháng đầu tiên, các triệu chứng “side effects” ập đến trong kinh hoàng. Hòa bị tiêu chảy trầm trọng, liên tục, kiệt sức, rã rời, không lết nổi vào washroom, các y tá phải mang tã cho Hòa, và để sẵn cái “bô” ngay dưới gầm giường. Còn nữa, miệng Hòa lại bị lở lói, uống nước còn không được chớ nói gì ăn, và bác sĩ cho thông ống vào thực quản để tiếp thức ăn vào cơ thể Hòa. Hai tháng sau, phép lạ bắt đầu xuất hiện, dù chậm chạp, tình hình từ từ khả quan hơn, các triệu chứng bớt dần, sức khỏe Hòa hồi phục, được trở về nhà cùng chồng con.

Khoảng gần một năm sau, bệnh viện nơi Hòa thay tủy có cho biết thông tin của người hiến tủy. Đó là một chàng trai, họ Yang, 29 tuổi, người Mỹ gốc Đài Loan, sinh ra lớn lên và học Đại Học ở Michigan, yêu thích thể thao nhất là chạy marathon, hiện nay đang sống và làm việc ở Chicago. Vợ chồng Hòa nao nức mừng rỡ, liên lạc với Yang qua email. Khi đọc mail của Hòa, biết tủy của mình đã cứu sống Hòa vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, Yang đã email trả lời đầy phấn khích, thật sự chung vui với Hòa.

Kể từ đó, Hòa-Hải thường xuyên liên lạc với Yang và Winnie là vợ mới cưới của Yang, có khi bằng tin nhắn, có khi Facetime, đặc biệt là mỗi dịp Thanksgiving và Giáng Sinh, họ cũng luôn đáp lại bằng những dòng nhắn thân tình. Dù luôn ước ao bay đến Chicago để thăm vợ chồng Yang nhưng đến nay, khi sức khỏe thật sự ổn định, công việc gia đình sắp xếp ổn thỏa, Hòa mới thực hiện được lời hứa cũng như ước mơ ấy.

Sáng sớm hôm sau, Hòa-Hải dậy sớm, mang hành lý lên xe uber tiến thẳng ra phi trường. Hòa luôn miệng nhắc Hải trông chừng cẩn thận thùng cua sống, là món quà hai vợ chồng mang đến cho nhà Yang-Winnie.

Máy bay đáp xuống O’Hare International Airport buổi trưa đầy gió và chan hòa ánh nắng (đúng là tên Thành Phố Gió). Hòa-Hải đón xe về khách sạn, đồng thời nhắn cho Yang biết đã đến Chicago đúng giờ, bình an. Sau khi nghỉ ngơi, tắm rửa, hai vợ chồng xuống dưới phố quanh khách sạn để ngắm cảnh chụp hình, chờ đến giờ đến nhà hàng ăn tối mà vợ chồng Yang đã chọn sẵn.

TẠ ƠN 2 (2)

Vợ chồng Hòa- Hải và Yang-Winnie lần đầu gặp gỡ tại Chicago năm 2025

Hòa hồi hộp khi bước vào nhà hàng, Yang và vợ đã ngồi nơi bàn, Hòa nhận ra họ ngay lập tức, rồi xúc động bước đến, ôm Yang vừa đứng lên đón vợ chồng nàng. Tự nhiên nước mắt Hòa tuôn ra không kịp ngăn lại được, Hải đứng kế bên đưa tay vuốt lưng vợ, còn Yang dịu dàng mỉm cười vỗ về Hòa bằng tiếng Mỹ, đại khái là:

– Cám ơn anh chị đã đến, chúng ta đã được gặp nhau bằng xương bằng thịt hôm nay, và Tạ ơn Chúa khi được nhìn thấy chị thật khỏe mạnh.

Hòa bật khóc:

– Yang ơi, nếu không có tủy của Yang thì giờ này tôi đâu có mặt ở đây được chớ! Tôi khóc vì hạnh phúc.

Sau phút giây cảm xúc đó, bốn người ngồi vào bàn ăn, vui vẻ hỏi han chuyện trò. Hòa nhắc Yang kể lại sự tình của việc hiến tủy. Yang nhớ đó là lúc còn là cậu sinh viên Đại học Michigan, rồi … ham vui theo bạn bè, ghi tên hiến máu hiến tủy khi trường Đại Học kêu gọi, đó là năm 2011. Rồi sau đó Yang ra trường, về Chicago làm việc, chẳng còn nhớ đến chuyện tình nguyện hiến tủy năm xưa. Cho đến một ngày tháng 11 năm 2022, tức là hơn 10 năm sau, Yang nhận được điện thoại của bệnh viện ở Michigan, hỏi Yang có vẫn muốn hiến tủy vì tủy của Yang rất phù hợp với một phụ nữ bị Ung Thư Máu đang nằm trong phòng ICU của bệnh viện Seattle. Dĩ nhiên, Yang vẫn có thể từ chối, vì chẳng có hợp đồng ràng buộc nào cả, nhưng Yang quyết định, rủ Winnie, cùng bay về Michigan tiến hành lấy tủy.

Yang mở phone ra, cho Hòa-Hải xem tấm hình Yang và Winnie chụp với bịch tủy vừa mới lấy xong, mà sau đó bệnh viện Michigan chuyển gấp về Seattle, với niềm tin, hy vọng sẽ cứu được người phụ nữ là Hòa, đang cần.

Để rồi giờ đây, bốn người ngồi ăn tối cùng nhau, vẫn còn ngập tràn niềm hạnh phúc, về sự diệu kỳ của cuộc đời mà lòng nhân ái đã đem người ta đến gần nhau, như gia đình thân mến.

Xong bữa tối cũng khá trễ, Yang và Winnie đề nghị được đưa Hòa-Hải về thăm nhà họ, rồi họ sẽ đưa Hòa-Hải về lại khách sạn. Căn nhà nhỏ bé của đôi vợ chồng son thật xinh xắn, thú vị hơn là họ cũng nuôi con chó, y như loại chó của Hòa-Hải ở Seattle, thế là cuộc nói chuyện thêm rộn rã về niềm vui chăm sóc thú cưng.

Hai ngày tiếp theo ở Chicago, Hòa-Hải đi thăm các địa điểm nổi tiếng của thành phố, Hòa thích ngắm dòng sông chạy qua giữa lòng phố xá sầm uất, cảnh đẹp như một New York thu nhỏ.

Buổi tối trước ngày Hòa-Hải bay về Seattle, vợ chồng Yang-Winnie đến khách sạn thăm, rồi đưa ra giỏ quà tặng, là những trái mướp, trái bầu căng tròn, xanh mướt. Hòa thích thú:

– Ôi, hôm bữa ghé nhà, tôi có thấy vườn tược gì đâu?

Winnie tươi cười:

– Vì thùng cua của anh chị cho nhiều quá, chúng tôi đem chia bớt cho ba má Yang sống ở phía nam thành phố Chicago, cả nhà chúng tôi cùng ăn cua, ngon lắm chị ơi! Rồi ba má Yang góp ý nên hái mướp hái bầu trong vườn nhà ba má để tặng lại cho anh chị. Cây nhà lá vườn, ba má Yang mát tay lắm, năm nào cũng rau củ đầy vườn, để tặng cho hàng xóm xung quanh.

Hòa vui vẻ:

– Winnie biết không, trái mướp này đem về nhà, tôi sẽ nấu canh cua mướp, ngon tuyệt vời! Còn mấy trái bầu sẽ luộc chấm thịt kho mắm kho. Những món này là đặc sản của món Việt khi nào Yang và Winnie đến Seattle tôi sẽ đãi hai bạn, và còn rất nhiều món ngon khác của người Việt tôi muốn hai bạn được thưởng thức.

Tiễn Yang-Winnie ra về, Hòa quay qua nói với Hải:

– Anh thấy chưa, ý kiến của em tặng cua cho họ thật ý nghĩa, vì cua Seattle nổi tiếng, còn hơn là tặng rượu, chocolate hoặc trang sức đắt tiền như anh đề nghị, vừa khách sáo, chưa chắc đúng như sở thích của họ.

Hải tiếp lời vợ:

– Và họ đã đáp lại chúng ta bằng “đặc sản” vườn nhà, cũng thật là chân tình, đơn sơ, dễ thương như con người của họ.

Trên máy bay vừa cất cánh, Hòa tựa lưng vào ghế, nhìn xuống thành phố Chicago vừa đã trở thành thân thương, hài lòng mãn nguyện vì chuyến đi gặp gỡ ân nhân, ân tình đã diễn ra thật tốt đẹp.

Thực ra, trước chuyến đi này, Hòa-Hải đã có vài chuyến “road trips” ân tình khác, trong nội địa xung quanh Seattle, hoặc gần kề tiểu bang như San Jose, Portland thăm bạn bè, gia đình họ hàng hai bên, sau khi Hòa được thay tủy, hồi sinh, để bày tỏ sự cám ơn chân thành đến với những người thân yêu, đã ở bên Hòa-Hải từ những ngày đầu chiến đấu với căn bệnh hiểm nghèo.

Đặc biệt, còn có cả chuyến lái xe xuyên biên giới, đến tiểu bang Alberta, Canada thăm một người chị thân quen từ những ngày ở chung trại tỵ nạn Panatnikhom hơn 30 năm trước. Vợ chồng chị đã từng đến Seattle gặp Hòa-Hải.  Chị ấy, cũng là một trong những người thân của nhóm “Hướng Đạo Trại Tỵ Nạn” trên Facebook theo dõi toàn bộ quá trình Hòa được trị bệnh, thường xuyên nhắn tin, thăm hỏi và cầu nguyện cho Hòa, nhất là những ngày sự sống mong manh khi Hòa nằm trong phòng ICU.

Cuộc đời Hòa thật may mắn nhận được nhiều ưu ái của Thiên Chúa, của Yang, của gia đình và bạn bè xung quanh. Hơn ba năm qua, kể từ ngày được ghép tủy thành công, cuộc sống gia đình Hòa-Hải đã trở lại nhịp sống bình thường. Hải vẫn làm Boeing Vendor, Hòa vừa trở lại đi làm cho một hãng điện tử từ nửa năm nay, con trai lớn có việc làm ở Delaware, con trai nhỏ làm chung hãng điện tử với Hòa. Mỗi bốn tháng Hòa đều đặn đi kiểm tra sức khỏe theo yêu cầu của bác sĩ, và lần nào cũng có kết quả chỉ số máu như người bình thường.

Hòa tự nhủ, kể từ ngày máu mới của Hòa là máu của Yang, trở thành “chị em”, Hòa sẽ sống từng phút giây với tấm lòng cảm tạ tri ân, hạnh phúc với từng điều nhỏ nhặt nhưng vô cùng quý giá của cuộc sống mỗi ngày. Cảm xúc này, tâm tình này, chỉ có những ai đã từng ở bên bờ sinh tử, hôn mê dài ngày trong phòng ICU… mới thấu hiểu rõ nhất.

Hòa nhắm mắt mơ màng, vì không còn thân nhân nào bên Việt Nam nên vợ chồng Hòa không nghĩ đến chuyện về quê hương. Đi du lịch đó đây trên thế giới là dự định tương lai, nhưng trước mắt trong tầm tay, Hòa muốn tận hưởng và tạ ơn cuộc đời, tạ ơn quê hương thứ hai, Mỹ Quốc, bằng những chuyến đi, dù là road trips hay đi máy bay, thăm hết nước Mỹ. Năm mươi tiểu bang, biết bao nhiêu thành phố, làng mạc, cảnh quan hùng vĩ, đến bao giờ mới đi hết. Và có một nơi mà Hòa vẫn nói với chồng, muốn đi thăm mỗi năm, đó là Chicago ân tình.

Hòa nhìn qua khung cửa máy bay, Chicago dần dần nhỏ lại phía dưới, tạm biệt Thành Phố Gió, và hẹn tái ngộ lần sau.

Chắc chắn là như thế!

Edmonton, Tháng 7/2026

KIM LOAN

Nguồn: https://vvnm.vietbao.com/a248330/chicago-an-tinh

MÔ HÌNH THI TUYỂN VÀ GHI DANH CỦA ĐẠI HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975…

 

Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.

1. Đại học ghi danh – Biểu tượng của giáo dục đại chúng:

Đây là hình thức mà người học chỉ cần có bằng Tú tài II là được ghi danh vào học, không phải qua kỳ thi tuyển sinh riêng. Các phân khoa điển hình là Văn khoa, Luật khoa, Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn.

Ưu điểm:

Thứ nhất, nó thể hiện triệt để triết lý giáo dục nhân bản, dân tộc, khai phóng. Mọi thanh niên có khả năng, không phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, đều có cơ hội bước vào đại học. Học phí ở các trường công lập hoàn toàn miễn phí, xóa bỏ rào cản tài chính. Đây là bước tiến rất lớn so với mô hình Pháp trước đó chỉ đào tạo một số ít tinh hoa.

Thứ hai, nó đáp ứng được nhu cầu bùng nổ về nhân lực có trình độ sau 1954, khi gần một triệu đồng bào di cư vào Nam và nhu cầu xây dựng quốc gia tăng cao. Chỉ trong 20 năm, tổng số sinh viên đã tăng từ vài nghìn lên khoảng 150.000 người vào năm 1975.

Thứ ba, mô hình ghi danh tạo ra một môi trường học thuật tự do, tự trị. Sinh viên được tự chọn chứng chỉ, tự chọn giáo sư, học theo tín chỉ. Người không thích ngành này có thể ghi danh thêm ngành khác. Điều này nuôi dưỡng tinh thần tự học, tự nghiên cứu, rất khác với việc học theo lớp niên chế gò bó.

Khuyết điểm:

Khuyết điểm lớn nhất là sự quá tải và thiếu kiểm soát chất lượng đầu ra. Lấy ví dụ Đại học Văn khoa Sài Gòn giai đoạn 1959-1963, lớp Dự bị có lúc sinh viên phải ngồi cả dưới đất, phải ném tập sách vào giữ chỗ. Giảng đường vài trăm chỗ mà có khi hơn nghìn sinh viên.

Vì đầu vào mở hoàn toàn, nhưng đầu ra lại thi rất khó theo chế độ chứng chỉ, nên tỷ lệ rớt, bỏ học rất cao. Nhiều người ghi danh 4-5 năm vẫn chưa lấy đủ chứng chỉ để ra trường. Điều này dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội, sinh viên kéo dài thời gian học, vừa học vừa làm, chất lượng đào tạo không đồng đều.

Ngoài ra, việc miễn phí hoàn toàn và không giới hạn chỉ tiêu khiến ngân sách giáo dục luôn eo hẹp. Trong khi ngân sách quốc gia phải dành hơn 40% cho quốc phòng, chỉ khoảng 7% cho giáo dục, việc duy trì các đại học ghi danh khổng lồ là một gánh nặng.

2. Đại học thi tuyển – Biểu tượng của giáo dục tinh hoa:

Ngược lại, các trường thi tuyển như Y khoa, Dược khoa, Nha khoa, Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú Thọ thì áp dụng chế độ thi tuyển vô cùng khắc nghiệt.

Ưu điểm:

Ưu điểm rõ nhất là chất lượng. Vì chỉ tiêu có hạn, tỷ lệ chọi có thể lên tới 1/10 hoặc 1/20, nên những người trúng tuyển thực sự là những người xuất sắc nhất. Chương trình học được thiết kế chặt chẽ, kỷ luật, học theo lớp, thực hành nghiêm ngặt. Nhờ vậy, bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư tốt nghiệp từ các trường này có trình độ được quốc tế công nhận, nhiều người sau 1975 ra nước ngoài hành nghề được ngay.

Thứ hai, nó đảm bảo hiệu quả đầu tư công. Vì đào tạo các ngành này tốn kém, đòi hỏi phòng thí nghiệm, bệnh viện thực tập, nên nhà nước không thể đào tạo đại trà. Việc thi tuyển giúp chọn đúng người, dùng đúng chỗ. Đặc biệt, sinh viên Sư phạm và Quốc gia Hành chánh còn được cấp học bổng hàng tháng, được xem là công chức tập sự, tạo động lực rất lớn và gắn trách nhiệm phục vụ sau khi ra trường.

Thứ ba, tính công bằng tuyệt đối trong thi tuyển. Việc tuyển chọn chỉ dựa trên điểm thi, không xét lý lịch gia đình. Con của một gia đình nghèo hoàn toàn có thể đậu Y khoa nếu học giỏi, và sau khi ra trường có địa vị xã hội vững chắc. Đây là con đường thăng tiến xã hội quan trọng.

Khuyết điểm:

Hạn chế lớn nhất là tính đào thải quá sớm và áp lực tâm lý khủng khiếp. Hệ thống giáo dục miền Nam vốn đã có 4 kỳ thi loại trừ liên tiếp: Tiểu học, Trung học đệ nhất cấp, Tú tài I, Tú tài II với tỷ lệ đậu Tú tài I chỉ 15-30% và Tú tài II chỉ 30-45%. Sau khi vượt qua tất cả để có Tú tài II, học sinh giỏi lại phải đối mặt với một kỳ thi tuyển còn khó hơn nữa vào Y, Dược.

Điều này tạo ra một xã hội trọng thi cử, học sinh phải học luyện thi vất vả. Những người không đậu vào trường thi tuyển buộc phải dạt sang hệ ghi danh, đôi khi không đúng với nguyện vọng, gây chán nản.

Mặt khác, vì chỉ tiêu quá ít, miền Nam trước 1975 luôn thiếu trầm trọng bác sĩ, kỹ sư. Đến năm 1974, cả miền Nam chỉ có khoảng hơn 100.000 sinh viên đại học cho 20 triệu dân, trong đó số sinh viên ngành kỹ thuật chỉ chiếm 0,5%. Nhu cầu phát triển công nghiệp và y tế không được đáp ứng đủ.

3. Nhận định chung:

Hai mô hình này thực chất là bổ sung cho nhau. Đại học ghi danh lo phần phổ cập tri thức, tạo ra một tầng lớp trung lưu có học thức, biết luật, biết văn chương, khoa học cơ bản. Đại học thi tuyển lo phần đào tạo cán bộ chuyên môn cao cấp, nòng cốt cho bộ máy nhà nước và xã hội.

Cái hay của miền Nam trước 1975 là đã không chọn một cực đoan. Nếu chỉ có thi tuyển, giáo dục sẽ thành đặc quyền của thiểu số. Nếu chỉ có ghi danh, sẽ thiếu đi những chuyên gia đầu ngành. Sự kết hợp này, dù còn nhiều bất cập do chiến tranh và thiếu thốn, vẫn là một thử nghiệm đáng tham khảo về việc làm sao vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa giữ được chất lượng đỉnh cao.

Nguyen Thyanh

Nguồn: https://www.facebook.com/baovietluan

TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM " . Tác phẩm xuất bản ở Anh

 

Tiểu thuyết trào phúng " TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM " . Tác phẩm xuất bản ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là George Orwell . ANIMAL FARM - Trại Súc Vật như một sự tiên đoán của tác giả về tương lai của mô hình nhà nước theo tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ đi đến bế tắc , phải tự chuyển hóa để tiến hoá .


ANIMAL FARM - TRẠI SÚC VẬT .
Tiểu thuyết trào phúng TRẠI SÚC VẬT - ANIMAL FARM . Tác phẩm xuất bản ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 của nhà văn Anh sinh tại Ấn Độ tên là George Orwell . ANIMAL FARM - Trại Súc Vật như một sự tiên đoán của tác giả về tương lai của mô hình nhà nước theo tư tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa sẽ đi đến bế tắc , phải tự chuyển hóa để tiến hoá .
Tóm tắt tác phẩm Trại Súc Vật :
Thủ lĩnh (Old Major), chú lợn đực già tại Trại Manor (hay "Willingdon Đẹp đẽ" như nó tự gọi mỗi khi xuất hiện) kêu gọi các loài vật khác trong Trại tới một cuộc họp, tại đó nó so sánh con người với những kẻ ăn bám và dạy các con vật một bài hát cách mạng, "Beasts of England" (Những súc vật của nước Anh).
Khi Thủ lĩnh chết ba ngày sau đó, hai con lợn trẻ, Snowball và Napoleon, nắm quyền chỉ huy và biến giấc mơ của Thủ lĩnh thành một triết lý đầy đủ.
Các con vật nổi dậy và đuổi Ông Jones khỏi trang trại, đổi tên từ "Trại Manor" thành "Trại súc vật."
Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật được viết trên tường của một nhà kho để tất cả mọi con vật có thể đọc được.
Điều thứ 7 là quan trọng nhất, "Mọi con vật đều bình đẳng."
Tất cả các con vật đều phải làm việc, nhưng chú ngựa thồ, Boxer, làm việc nhiều hơn những con khác và nhận câu châm ngôn — "Tôi sẽ làm việc nhiều hơn nữa."
Chú lợn Snowball tìm cách dạy các con thú khác đọc và viết (dù ít con muốn học đọc và viết cẩn thận, và điều này đã góp phần vào việc những con lợn trở thành kẻ cầm quyền); thức ăn thừa mứa; và trang trại hoạt động êm thấm.
Những con lợn tự nâng cấp chúng lên các vị trí lãnh đạo, thể hiện sự ưu tú của mình bằng các đặt bên cạnh các loại thức ăn đặc biệt phục vụ cho sức khoẻ cá nhân của chúng.
Trong lúc đó, Napoleon bí mật lấy những chú chó con từ các con chó trong trang trại và tự mình huấn luyện chúng.
Khi Ông Jones tìm cách lấy lại trang trại, các con vật đánh bại ông trong cái chúng gọi là "Trận Cowshed."
Napoleon và Snowball bắt đầu một cuộc cạnh tranh quyền lãnh đạo.
Khi Snowball tuyên bố ý tưởng về một cối xay gió, Napoleon nhanh chóng phản đối nó.
Snowball thực hiện một bài phát biểu nồng nhiệt để ủng hộ cối xay gió, trong khi đó Napoleon triệu tập chín con chó của mình, và chúng đã đuổi Snowball đi.
Với sự vắng mặt của Snowball, Napoleon tuyên bố mình là lãnh đạo và thực hiện những thay đổi.
Những cuộc hội họp sẽ không còn được tổ chức nữa và thay vào đó là một uỷ ban của những con lợn sẽ quyết định điều gì sẽ xảy ra với trang trại; vì thế tạo ra một thứ giống với một xã hội chuyên chế độc tài Napoleon, dùng một chú lợn trẻ tên là Squealer làm người phát ngôn của mình, thông báo rằng Snowball đã ăn cắp ý tưởng về cối xay gió của Napoleon.
Nhân vật Squealer trong trường hợp này có thể coi là một sự ám chỉ tới một nhân vật thêu dệt (spin doctor) chính trị.
Các con vật làm việc nhiều hơn với lời hứa hẹn về một cuộc sống dễ dàng hơn với chiếc cối xay gió.
Sau một cơn bão mạnh, các con vật thấy thành quả lao động của chúng đã biến mất.
Napoleon và Squealer sau đó tìm cách thuyết phục các con vật rằng Snowball là người đã phá huỷ cối xay gió, dù theo những lời bàn luận miệt thị từ các trang trại xung quanh thực tế cối xay gió bị phá huỷ bởi những bức tường được xây quá mỏng.
Khi Snowball trở thành kẻ giơ đầu chịu báng, Napoleon bắt đầu thanh trừng trang trại, giết nhiều con vật mà nó buộc tội là đi lại với Snowball.
Trong lúc ấy, Boxer được dạy châm ngôn thứ hai: "Napoleon luôn luôn đúng."
Napoleon ngày càng lạm dụng quyền lực, vì thế cuộc sống trở nên khó khăn hơn cho các con vật; những con lợn áp đặt thêm nhiều biện pháp kiểm soát trong khi vẫn giữ các ưu tiên cho chúng.
Những con lợn viết lại lịch sử để kể tội Snowball và vinh danh Napoleon, ví dụ bằng cách nói rằng Snowball đã chiến đấu cho loài người trong Trận Cowshed, và rằng Napoleon đã đánh Snowball, trong khi trên thực tế Snowball bị trúng một viên đạn từ khẩu súng của Jones.
Squealer sửa chữa mọi tuyên bố do Napoleon đưa ra, thậm chí cả sự thay đổi Bảy điều răn của Chủ nghĩa súc vật của những con lợn.
"Không con thú nào được uống rượu" nhanh chóng được đổi thành "Không con thú nào được uống rượu quá mức"
Khi những con lợn phát hiện ra nơi cất giấu rượu whiskey.
Bài hát "Beasts of England" cũng bị cấm vì lý do nó không thích hợp, bởi theo Napoleon giấc mơ của Trại súc vật đã trở thành hiện thực.
Nó được thay thế bằng một bài hát ca ngợi Napoleon, và nó có vẻ đã chấp nhận cách sống của một con người.
Các con vật, dù lạnh, đói khát và phải làm việc quá sức, vẫn tin tưởng theo tuyên truyền tâm lý rằng chúng vẫn đang sống tốt đẹp hơn so với cuộc sống trước kia với Ông Jones, người chủ Trang trại Manor.
Squealer lợi dụng trí nhớ kém của các con vật và sáng tác ra các con số để thể hiện sự cải thiện của chúng.
Mr. Frederick, một trong hai trại chủ láng giềng, đã lừa Napoleon bằng cách mua gỗ xẻ bằng tiền giả, và sau đó tấn công trang trại, dùng thuốc nổ để phá huỷ chiếc cối xay gió mới được làm lại.
Dù những con vật của Trại súc vật cuối cùng đã giành chiến thắng, chúng phải trả một giá đắt, bởi nhiều con thú, kể cả Boxer, đã bị thương.
Squealer biến mất một cách bí ẩn khỏi trận đánh.
Boxer tiếp tục làm việc nhiều và nhiều hơn, cho tới khi cuối cùng nó lăn ra khi đang làm việc ở cối xay gió.
Napoleon điều một chiếc xe bán tải tới chở Boxer tới bác sĩ thú y, giải thích cho những con vật đang lo lắng rằng Boxer sẽ được chăm sóc tốt ở đó.
Tuy nhiên, Benjamin đã nhận ra khi Boxer được tống lên xe rằng thực tế chiếc xe thuộc về "Alfred Simmonds, Kẻ giết Ngựa và Nấu Hồ", và cố gắng lên tiếng phản đối, nhưng những nỗ lực tuyệt vọng của các con thú không mang lại kết quả.
Squealer nhanh chóng thông báo rằng chiếc xe đã được bệnh viện mua lại và giấy của người sở hữu trước vẫn chưa được viết lại.
Nó kể lại một câu truyện cổ tích kịch tính và đầy nước mắt về cái chết của Boxer trong tay những bác sĩ giỏi nhất. Trên thực tế, những con lợn đã gửi Boxer tới chỗ chết để đổi lấy tiền mua thêm whiskey.
Và vì thế lũ lợn lại tiếp tục say mèm.
Nhiều năm trôi qua, và những con lợn học đi thẳng, mang theo roi da, và mặc quần áo.
Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: "Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác."
Napoleon tổ chức một bữa tiệc cho những con lợn và người ở trong vùng (trong Trại Foxwood bên cạnh, của Ông Pilkington), người đã chúc mừng Napoleon vì có những con vật làm việc nhiều nhất nước với lương thực ít nhất.
Napoleon thông báo liên minh của mình với loài người, chống lại các tầng lớp lao động của cả hai "thế giới".
Sau đó nó xoá bỏ các hành động và truyền thống liên quan tới Cách mạng, và đổi lại tên trang trại trở về ban đầu là "Trại Manor".
Các con vật, nghe được về việc đó, nhận ra khuôn mặt của những con lợn cầm quyền đã bắt đầu thay đổi.
Trong một ván poker, một cuộc tranh cãi nổ ra giữa Napoleon và Ông Pilkington khi cả hai đều chơi quân bài Át Bích, và các con vật nhận ra rằng những bộ mặt của những con lợn khi đó hầu như đã giống với mặt người và rằng không ai có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng.
Chủ nghĩa động vật là một hình ảnh phản chiếu có tính chất ngụ ý về các nhà nước mới trong lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn mới thành lập, cũng như diễn tiến quan niệm của cách mạng và chính phủ mới về việc làm thế nào để thực hiện nó. Chủ nghĩa này do chú lợn Old Major rất được tôn trọng đề ra.
Những chú lợn Snowball, Napoleon, và Squealer đã đưa các tư tưởng của Old Major vào trong một triết lý thực tế, mà chúng đặt tên chính thức là Chủ nghĩa động vật.
Ngay sau đó Napoleon và Squealer bắt đầu tự cho phép thực hiện các trò truỵ lạc của loài người (uống rượu, ngủ trên giường và mua bán).
Squealer được sử dụng để sửa đổi Bảy điều răn để thích hợp với sự người hoá của nó, cái thể hiện sự bóp méo lý thuyết nhân đạo ban đầu của chính phủ mới để nó lập lại một xã hội chuyên chế độc tài thời Jones, một sự phát triển "lùi" chứ không phải là một sự thay thế cấp tiến.
Bảy điều răn là một danh sách các quy định hay luật được cho là để giữ trật tự và đảm bảo tính căn bản của Chủ nghĩa động vật bên trong Trại súc vật.
Bảy điều răn được đưa ra để thống nhất mọi loài vật với nhau trong một lý tưởng chung chống lại con người và ngăn chặn các loài vật không đi theo những thói quen ma quỷ của con người.
Bởi không phải tất cả loài vật đều có thể nhớ được Bảy điều răn, chúng được rút gọn lại thành một câu căn bản: "Bốn chân tốt! Hai chân xấu!"
(với cánh cũng được tính là chân cho mục đích này, Snowball cho rằng cánh được tính như chân bởi chúng là các vật thể để vận động chứ không phải để thao tác), câu nói được những con cừu thường xuyên nhắc lại, khiến đám đông những con vật quên đi những lời nói dối của những con lợn.
Bảy điều răn nguyên bản là:
1.Bất kỳ cái gì đi bằng hai chân đều là kẻ thù
2.Bất kỳ cái gì đi bằng bốn chân, hay có cánh, đều là bạn bè.
3.Không con vật nào được mặc quần áo.
4.Không con vật nào được ngủ trên giường.
5.Không con vật nào được uống rượu.
6.Không con vật nào được giết bất kỳ con vật nào khác.
7.Tất cả các loài vật là bình đẳng.
Sau này, Napoleon và những con lợn của nó tham nhũng bằng quyền lực tuyệt đối chúng có được với trang trại.
Để duy trì sự đồng đẳng với các loài vật khác, Squealer bí mật viết thêm vào các điều răn để làm lợi cho các con lợn trong khi vẫn giữ bí mật để chúng không bị buộc tội phá vỡ các điều luật (như "Không con vật nào được uống rượu" được thêm "quá mức" và "Không con vật nào được ngủ trên giường" được thêm "trải ga").
Các điều răn cuối cùng bị bỏ đi hoàn toàn, và được thay thế bằng câu "Mọi con vật đều bình đẳng, nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác", và "Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn!" khi loài lợn ngày càng giống con người.
Về sau chế độ của Napoleon tự sụp đổ và tự chuyển hóa để trở thành con người .
 
https://onnguonsuviet.com/p104a1056/tieu-thuyet-trao-phung-trai-suc-vat-animal-farm-tac-pham-xuat-ban-o-anh-ngay-17-thang-8-nam-1945-cua-nha-van-anh-sinh-tai-an-do-